Các nguyên tắc và phương pháp tính giá hàng tồn kho theo chuẩn mực kế toán quốc tế và một vài nước khác

Chuẩn mực kế toán quốc tế.

Các nguyên tắc tính giá hàng tồn kho.

Nguyên tắc giá gốc: Các yếu tố cấu thành giá phí nhập kho:

Tổng chi phí mua

Gồm có:

Giá mua trên hóa đơn

Các chi phí phụ liên quan đến việc mua

Giảm giá thương mại được trừ vào tổng chi phí mua

Trường hợp đặc biệt : Có thể tính vào tổng chi phí mua lỗ hối đoái trong

trường hợp đặc biệt là đơn vị tiền tệ kế toán đột xuất giảm trầm trọng so với ngoại tệ mua hàng gần đây

Chi phí chế biến

Gồm có:

  • Chi phí trực tiếp liên quan đến sản phẩm;
  • Phân bổ các chi phí sản xuất chung.

Các chi phí khác: Là các chi phí mà xí nghiệp phải chịu để đưa hàng về địa

Nguyên tắc so sánh được: điểm và trong trạng thái hiện tại. Việc áp dụng phương pháp tính giá hàng tồn kho phải nhất quán giữa kkỳ này với kỳ khác. Song cũng không thích hợp cho một doanh nghiệp tiếp tục áp dụng phương pháp kế toán như nhau nếu như phương pháp tính giá hàng tồn kho đó không giữ được tính chất về định tính, tính phù hợp và độ tin cậy. Cũng sẽ là không hợp lý đối với một doanh nghiệp không thay đổi chính sách kế toán của mình trong khi có chính sách kế toán thay thế là hợp lý và đáng tin cậy.Song kế toán phải trình bày những thay đổi này trong báo cáo tài chính.

Nguyên tắc thận trọng:Để đảm bảo nguyên tắc này kế toán xác định dự phòng giảm giá tồn kho.Nguyên tắc chung: Nếu giá có thể bán được thuần thấp hơn giá phí nhập kho thì dự phòng giảm giá tồn kho phải được lập và hạch toán để giảm giá trị ghi sổ kế toán xuống thành giá có thể bán được thuần. Ví dụ: Hàng tồn kho bị hư honngr hoặc lỗi thời; Giá bán bị giảm hoặc những chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm hoặc những chi phí cần thiết để bán hàng tăng lên.Dự phòng giảm giá hàng hoặc dịch vụ tồn kho phải được tính cho từng mật hàng hoặc dịch vụ tồn kho. Tuy nhiên các hàng gần tương tự như nhau hoặc có liên quan mật thiết với nhau, có thể được nhập lại với nhau để tính dự phòng giảm giá hàng tồn kho.Với các nguyên vật liệu và vật dụng không được giảm giá nếu thành phẩm được sản xuất ra từ các nguyên vật liệu và vật dụng này được bán với giá bằng hoặc cao hơn giá phí của nó.Trong trường hợp sự giảm sút giá mua trên thị trường của các nguyên vật liệu và vật dụng làm cho giá phí thành phẩm cao hơn giá có thể bán được thuần, thì: giá trị ghi sổ của các nguyên vật liệu và vật dụng này phải được giảm xuống bằng giá có thể bán được thuần của nó. Việc xác định giá có thể bán được thuần phải thực hiện vào mỗi kỳ kết toán. Khi mà những sự kiện dẫn đến việc phải đánh giá tồn kho thấp hơn giá gốc của nó không tồn tại nữa, trong trường hợp này dự phòng giảm giá tồn kho phải được hoàn nhập để mà giá trị tồn kho thể hiện trên báo cáo tài chính vẫn là giá thấp nhất giữa giá gốc và giá có thể bán được thuần của nó.

Nguyên tắc phù hợp:Khi hàng hoặc dịch vụ tồn kho được bán:Giá phí sẽ được hạch toán vào bên “chi phí”Giá bán được hạch toán vào bên "Doanh thu” trong cùng một niên khóa tài chính nhằm tôn trọng nguyên tắc “Tương xứng doanh thu-chi phí”.

Các phương pháp tính giá hàng tồn kho.

Chuẩn mực kế toán quốc tế phân biệt hai loại hàng tồn kho

  • Hàng nhận diện được ;
  • Hàng giống nhau không nhận diện được.

Vì phương pháp tính giá xuất kho sẽ khác nhau.

Loại hàng nhận diện được

Đối với các loại hàng tồn kho nhận diện được mua hoặc sản xuất bởi xí nghiệp và các dịch vụ tồn kho cung cấp theo các hợp đồng khác nhau, giá phí xuất kho gồm tất cả các giá phí đích thị của nó.

Loại hàng giống nhau không nhận diện được

Chuẩn mực IAS 2 đưa ra hai công thức:

  • Công thức “ Chuẩn”:
    • Nhập trước xuất trước (FIFO)
    • Bình quân gia quyền (CMP)
  • Công thức “thay thế được chấp nhận”:
  1. Nhập sau xuất trước (LIFO)

(Phương pháp này không phù hợp với người bán hàng bởi vì không ai bán hàng mới đi còn hàng cũ thì giữ lại để bán sau).

Nếu sử dụng LIFO, một số thông tin phải được cung cấp trong phần “thuyết minh báo cáo tài chính

Kinh nghiệm kế toán một số nước trên thế giới về tính giá hàng tồn kho

Kế toán Anh

Chuẩn mực kế toán Anh chỉ quy định 3 phương pháp tính giá hàng tồn kho đó là:

  • Phương pháp giá đích danh;
  • Phương pháp nhập trước, xuất trước;
  • Phương pháp nhập sau, xuất trước.

Kế toán Mỹ

Có 4 phương pháp tính giá hàng tồn kho :

  • Phương pháp giá thực tế đích danh;
  • Phương pháp giá đơn vị bình quân;

+ Bình quân cả kỳ dự trữ;

+ Bình quân sau mỗi lần nhập;

  • Phương pháp nhập trước, xuất trước;
  • Phương pháp nhập sau, xuất trước.

Kế toán Mỹ thực hiện nguyên tắc “Thận trọng” qua việc đánh giá hàng tồn kho theo mức giá thấp hơn giá thực tế hoặc giá thị trường

Nguyên tắc thận trọng yêu cầu khi giá thị trường thấp hơn giá vốn thì kế toán ghi chép và báo cáo theo giá thị trường. Nhưng khi giá thị trường lên cao hơn giá vốn thì kế toán vẫn ghi theo giá vốn.

  1. Nguyên tắc giá thấp hơn của giá phí hoặc giá thị trường (LCM)

Kế toán Pháp.

Theo tổng hoạch đồ kế toán năm 1982, để tính giá xuất kho và giá tồn kho cuối kỳ của hàng tồn kho DN có thể lựa chọn một trong ba phương pháp sau:

  • Tính giá bình quân căn cứ vào hàng tồn kho đầu kỳ và tất cả các lần nhập trong kỳ (tháng, quý, năm) (hay còn gọi là giá thực tế bình quân cả kỳ dự trữ).
  • Tính giá bình quân sau mỗi lần nhập.
  • Phương pháp giá nhập trước, xuất trước.

Phương pháp nhập sau xuất trước không được chuẩn mực kế toán Pháp chấp nhận

Về kế toán hàng tồn kho .Theo nguyên tắc, để lập các báo cáo tài chính thì hàng tồn kho chỉ được hạch toán theo phương pháp kiểm kê định kỳ. Còn phương pháp kê khai thường xuyên chỉ sử dụng trong kế toán phân tích để tính giá phí, giá thành của các loại nguyên, vật liệu, vật tư, hàng hoá, thành phẩm. Còn ở Việt Nam, cả hai phương pháp kế toán hàng tồn kho đều được áp dụng trong kế toán tài chính và nhìn chung thì phương pháp kê khai thườmg xuyên được áp dụng nhiều hơn.

Kế toán Pháp tiến hành trích lập dự phòng cho giảm giá hàng tồn kho để đề phòng thiệt hại có thể xảy ra do hàng tồn kho bị giảm giá (Giống với kế toán Việt Nam).