Cấu trúc tập luận văn tốt nghiệp

Cấu trúc tập luận văn tốt nghiệp

Cấu trúc của mỗi luận văn tốt nghiệp tùy thuộc vào từng chuyên ngành và đề tài cụ thể mà có thể có những phần khác nhau. Thông thường bao gồm 2 phần chính sau đây:

  • Những trang đầu của luận văn: gồm có trang bìa, trang phụ bìa, cảm tạ và đề tặng, quá trình học tập, lời cam đoan, trang chấp nhận luận văn tốt nghiệp của Hội đồng, mục lục, danh sách hình, danh sách bảng, danh sách từ khó, danh sách từ viết tắt, tóm lược tiếng Việt, summary tiếng Anh.
  • Nội dung của luận văn: gồm có phần mở đầu, lược khảo tài liệu, phương tiện và phương pháp, kết quả và thảo luận, kết luận và đề nghị, danh sách tài liệu tham khảo, phụ lục.

Những trang đầu của tập luận văn

Bìa luận văn tốt nghiệp

Thông thường, mỗi trường Đại học hay Cao đẳng có những quy định riêng về cách trình bày và màu sắc của bìa luận văn tốt nghiệp. Bìa phải được trình bày đúng theo mẫu hướng dẫn về nội dung, cỡ chữ, vị trí và khoảng cách giữa các phần trên trang bìa. Mẫu bìa luận văn tốt nghiệp được trình bày ở Phụ lục 1. Đối với từng học vị, bìa luận văn có màu sắc được qui định khác nhau: Bìa luận văn tốt nghiệp đại học của khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ có màu vàng chanh.

Phụ bìa

Là trang tiếp theo sau trang bìa, nội dung cũng giống như trang bìa nhưng có thêm tên người hướng dẫn khoa học (Phụ lục 2). Trang phụ bìa không được liệt kê trong phần mục lục và không đánh số trang, nhưng được kể là trang trong luận văn.

Trang cảm tạ và đề tặng (không bắt buộc)

Cảm tạ hay đề tặng thường thì được viết rất ngắn gọn và không cần đề tựa “Cảm tạ” hay “Đề tặng”, chỉ viết đơn giản là cám ơn ai hay gửi đến ai. Không nhất thiết viết đầy đủ tên họ cũng như ngày tháng năm sinh của người được đề tặng. Không kể lể quá dài dòng lý do cảm tạ hay đề tặng đến những việc quá khứ và cũng không gởi cho những ai mà sự hỗ trợ của họ không nhiều trong quá thực hiện luận văn tốt nghiệp. Lời cảm tạ hay đề tặng được viết theo chế độ canh giữa trang giấy, cách đầu trang giấy khoảng 8 phân và cuối phần viết không có dấu chấm (Phụ lục 3). Trang cảm tạ hay đề tặng không được liệt kê trong phần mục lục, không đánh số trang nhưng được xem như là trang trong của luận văn.

Trong cảm tạ, cần phải cảm ơn thầy hướng dẫn trước và liệt kê những cá nhân hay đơn vị đã hỗ trợ cho việc nghiên cứu và viết luận văn tốt nghiệp, chỉ nêu lên những gì mà họ đã giúp đỡ một cách ngắn gọn. Đề tặng có thể gởi đến cha mẹ hay những người đã nuôi dưỡng hoặc những người đã giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập.

Quá trình học tập

Học viên điền đầy đủ lý lịch sơ lược và quá trình học tập theo mẫu trong Phụ lục 4. Địa chỉ cần ghi rõ ràng để có thể liên lạc sau nầy. Trang này không được liệt kê trong phần mục lục nhưng được đánh số trang.

Lời cam đoan

Cam đoan là công trình do chính tác giả thực hiện và không trùng lắp với những công trình trước (Phụ lục 5). Trang này không được liệt kê trong phần mục lục nhưng được đánh số trang.

Trang chấp nhận luận văn tốt nghiệp

Phải có chữ ký tên của tất cả các thành viên trong Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp sau khi sửa chữa và nộp 2 quyển cho thư viện khoa (Phụ lục 6). Trang này không được liệt kê trong phần mục lục nhưng được đánh số trang.

Mục lục

Phần đầu của mục lục là liệt kê: danh sách hình, danh sách bảng, danh sách từ viết tắt, tóm lược, summary và mở đầu. Tiếp theo là liệt kê những chương, mục chính và những mục phụ của luận văn, không liệt kê đoạn (xem phần chương, mục và đoạn). Chú ý: nên trình bày phần mục lục dưới dạng bảng, vì vậy có khoảng cách ở đầu dòng đều nhau và đánh số trang được thẳng hàng (Phụ lục 7).

Chữ số chỉ trang trong phần mục lục được đặt bên lề phải trang giấy và nằm cách riêng với tựa chương và mục. Các tiểu mục nhỏ có thể không ghi số trang khi cùng chung với mục lớn.

Danh sách hình

Trình bày đơn giản là chữ “Hình” nằm bên lề trái và chữ “Trang” để chỉ trang của hình trong bài viết nằm bên lề phải trang giấy. Dưới chữ “Hình” chỉ liệt kê số thứ tự của hình. Tựa của hình được viết liền sau đó, nếu tựa hình dài thì xuống dòng, dòng này cách dòng kia là hàng đơn (single line). Còn tựa hình này cách tựa hình kia là hàng đôi (double line). Số trang được đánh cách biệt với tựa của hình ở cột bên lề phải.

Số hình trong bảng danh sách không đánh số có chữ theo sau, thí dụ như 1a, 1b,... mặc dù trong hình lớn có nhiều hình nhỏ bên trong. Số thứ thự của hình trong danh sách hình thì giống như trong bài viết. Chú ý: nên trình bày danh sách hình dưới dạng bảng để trước đầu dòng có khoảng cách đều nhau và đánh số trang được thẳng hàng (Phụ lục 8).

Danh sách bảng

Tương tự như cách trình bày ở phần danh sách hình, danh sách bảng được trình bày là chữ “Bảng” nằm bên trái và chữ “Trang” nằm bên lề phải. Giữa chúng là tựa của bảng, tựa bảng đặt theo sau số thứ tự của bảng. Nếu tựa bảng dài hơn một dòng thì dòng này cách dòng kia là hàng đơn, còn giữa hai tựa bảng trong danh sách bảng với nhau là hàng đôi. Chú ý: nên trình bày danh sách bảng dưới dạng bảng để trước đầu dòng có khoảng cách đều nhau và đánh số trang được thẳng hàng (Phụ lục 9).

Danh sách từ đặc biệt (không bắt buộc)

Nếu trong tập luận văn có nhiều từ lạ hay là những từ chuyên môn hoặc cụm từ không quen thuộc, nên lập thành danh sách những từ này và định nghĩa chúng. Các từ này được sắp xếp theo thứ tự mẫu tự (a, b, c, …) và đặt bên trái trang giấy. Theo sau những từ ấy là dấu hai chấm và phần định nghĩa, chữ cái đầu tiên phần định nghĩa được viết hoa và cuối câu là dấu chấm, trừ khi phần định nghĩa chỉ là một từ hay cụm từ thì sẽ không có dấu chấm cuối câu. Nếu phần định nghĩa dài hơn một hàng thì hàng dưới phải vô 5 space từ phía bên lề trái (hanging) và cách nhau hàng đơn. Các từ khó cách nhau hàng đôi (Phụ lục 10).

Danh sách từ viết tắt

Danh sách các từ viết tắt được sắp xếp theo thứ tự mẫu tự (a, b, c, …) của từ viết tắt, chứ không phải của từ hoặc cụm từ được viết tắt. Từ viết tắt được đặt ở bên lề trái, theo sau là hai chấm và tiếp theo là từ hoặc cụm từ được viết tắt. Chú ý: nên trình bày danh sách từ viết tắt dưới dạng bảng để cho các từ hay cụm từ được viết tắt được thẳng hàng (Phụ lục 11).

Tóm lược và Summary

Phần tóm lược (tiếng Việt) và summary (tiếng Anh) là phần tóm lại của luận văn tốt nghiệp. Phần tóm lược được viết dưới hình thức là đoạn văn có bố cục chặt chẽ, cân đối với tập luận văn và thường không dài quá 400 từ (Phụ lục 12 và 13). Để viết tốt phần tóm lược chỉ cần liên kết và cô động lại những ý chính của tập luận văn và lời bình luận phù hợp.

Về hình thức, phần này phải thoả các điều kiện sau:

  1. Phải có đủ các phần chính như trong tập luận văn: mở đầu, mục đích, phương pháp, kết quả và kết luận quan trọng nhất của luận văn.
  2. Không được trình bày bảng, hình, tài liệu tham khảo và những chữ viết tắt không thông dụng trong phần nầy.
  3. Cấu trúc chặt chẽ dễ đọc, sao cho độc giả hiểu mà không cần phải tham khảo luận văn.

Về nội dung, phần nầy cần đáp ứng các điều kiện sau:

  1. Phản ánh chính xác mục đích và nội dung của bài viết.
  2. Tóm lược ý chính, nêu ngắn gọn trọng tâm vấn đề của bài viết.
  3. Nói đến những nguồn vật liệu chủ yếu đã được sử dụng.
  4. Kết luận rõ ràng.