Chấm dứt các mối liên hệ gia đình

CHẤM DỨT CÁC MỐI LIÊN HỆ GIA ĐÌNH

Các trường hợp chấm dứt quan hệ hôn nhân. Các trường hợp chấm dứt quan hệ hôn nhân, trên thực tế, có thể được xếp thành ba nhóm.

- Vợ hoặc chồng chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết (gọi chung là chết);

- Vợ và chồng ly hôn;

- Vợ và chồng không sống chung nhưng không tiến hành thủ tục ly hôn.

Trong trường hợp thứ ba, luật Việt Nam vẫn xem các đương sự là vợ và chồng hợp pháp và vẫn có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau.

Trong hai trường hợp đầu, vợ hoặc chồng hoặc cả vợ và chồng trở thành người độc thân sau khi hôn nhân chấm dứt và có quyền kết hôn với người khác. Thế nhưng, khác với vợ (chồng) ly hôn, vợ chồng còn sống sau khi hôn nhân chấm dứt do có người chết còn mang thêm tư cách vợ (chồng) goá và chính tư cách này khiến cho người còn sống có một số quyền được thừa nhận, trong tục lệ hoặc trong luật, mà người ly hôn không có. Luật thừa nhận rằng khi vợ hoặc chồng chết, thì chồng hoặc vợ còn sống có quyền hưởng di sản theo pháp luật với tư cách là người thừa kế thuộc hàng thứ nhất. Trong trường hợp người chết lập di chúc giao tài sản của mình cho người khác, thì vợ hoặc chồng còn sống có quyền hưởng di sản không phụ thuộc nội dung di chúc và được luật cho phép nhận một phần di sản bằng 2/3 suất thừa kế mà người này được hưởng trong trường hợp toàn bộ di sản được chuyển giao theo pháp luật (BLDS Điều 669).

Các hệ quả về tài sản mang tính chất của quyền thừa kế liên quan đến vợ hoặc chồng còn sống trong trường hợp hôn nhân chấm dứt do có người chết là một đề tài rất lớn sẽ được nghiên cứu riêng. Sự duy trì quan hệ hôn nhân, chấm dứt về mặt pháp lý sau khi có một người chết, trong tâm trí của người còn sống, về phần mình, không phải là một phần chủ đề của tập sách này.

Ta còn lại trường hợp chấm dứt quan hệ hôn nhân do ly hôn.

KHÁI NIỆM CHUNG VỀ LY HÔN

Định nghĩa. Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân (về mặt pháp lý) ngay trong lúc cả vợ và chồng đều còn sống. Đây là biện pháp cuối cùng mà luật cho phép thực hiện trong trường hợp cuộc sống vợ chồng lâm vào tình trạng khủng hoảng mà không thể được khắc phục bằng bất kỳ biện pháp nào khác.

Ly hôn trong luật so sánh

Cấm ly hôn. Theo một quan niệm nào đó, hôn nhân được xác lập và được duy trì chỉ nhờ vào sự ưng thuận lúc ban đầu (lúc kết hôn), cũng giống như sự ưng thuận khi giao kết hợp đồng; một khi đã ưng thuận kết hôn, người kết hôn không thể thay đổi ý chí, nghĩa là phải chấp nhận cuộc sống chung cho đến cuối đời (cũng như người giao kết hợp đồng phải thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng chứ không thể đơn phương rút khỏi quan hệ kết ước, dù có thể không còn muốn duy trì quan hệ đó nữa). Nói rõ hơn, kết hôn thì được, nhưng ly hôn thì không được. Quan niệm này được chấp nhận trong rất nhiều hệ thống luật nguyên sơ và được coi là một trong những quan niệm nền tảng của luật giáo hội về gia đình. Không ít nước Châu Âu chỉ mới từ bỏ quan niệm này cách nay không lâu: ở Ý từ năm 1975, ở Tây Ban Nha từ năm 1982,... Việc duy trì quan niệm này trong luật cận đại và đương đại của các nước chủ yếu vì lý do tôn giáo.

Tự do ly hôn. Trái ngược với hệ thống cấm ly hôn, hệ thống tự do ly hôn chủ trương rằng hôn nhân không thể được duy trì, một khi vợ hoặc chồng hoặc cả hai không còn cảm thấy được thôi thúc bởi ý muốn chung sống. Mỗi người phải có quyền tự do chấm dứt quan hệ hôn nhân, như đã có quyền tự do xác lập quan hệ đó. Nếu cả vợ và chồng đều đồng ý ly hôn, thì càng tốt; nếu không, mỗi người có quyền ly hôn chỉ bằng quyết định đơn phương của mình. Quyền tự do ly hôn đươc thiết lập trong luật La Mã thời kỳ cuối. Trong luật đương đại của nhiều nước theo Common law hoặc của các nước Bắc Âu, ly hôn theo ý chí đơn phương được thừa nhận dưới hình thức “ly hôn do không hợp tính tình” (divorce pour incompatibilité d’humeur): chỉ cần chứng minh rằng giữa vợ và chồng có sự khác biệt về tính tình và sự khác biệt đó là nguyên nhân của những xung đột gay gắt giữa hai người khiến cho cuộc sống chung không thể chịu đựng được, vợ hoặc chồng có thể xin ly hôn và thẩm phán phải đáp ứng thuận lợi đối với yêu cầu ly hôn đó.

Ly hôn tự do dưới sự kiểm soát của Nhà nước. Có thể coi mô hình thứ ba như là sự dung hoà giữa hai mô hình trên đây: ly hôn vẫn nằm trong nội dung quyền dân sự của cá nhân; nhưng yêu cầu ly hôn chỉ được Toà án tiếp nhận trong những trường hợp được luật dự kiến. Yêu cầu ly hôn có thể do vợ hoặc chồng hoặc cả vợ và chồng đưa ra. Thẩm phán, về phần mình, có quyền quyết định cho phép hay không cho phép ly hôn trên cơ sở đánh giá mức độ chính đáng, hợp lý, hợp tình của yêu cầu ly hôn; ngay nếu như yêu cầu ly hôn rơi đúng vào trường hợp được luật dự kiến, thẩm phán có thể bác đơn xin ly hôn, một khi xét thấy lý do ly hôn không vững chắc hoặc việc ly hôn có thể ảnh hưởng bất lợi nghiêm trọng đối với cuộc sống sau ly hôn của một trong hai đương sự (hoặc cả hai) hoặc đối với tương lai của con cái, so với việc tiếp tục quan hệ hôn nhân. Hệ thống ly hôn tự do dưới sự kiểm soát của Nhà nước cho phép cơ quan Nhà nước có thẩm quyền can thiệp vào sự hình thành suy nghĩ của vợ, chồng về vấn đề ly hôn đồng thời vẫn tôn trọng ý chí thực, nghiêm túc và chắc chắn của vợ, chồng hoặc của cả hai về việc duy trì hay không duy trì cuộc sống chung.

Ly hôn trong luật Việt Nam

Lịch sử

Luật cổ và tục lệ cổ. Ly hôn là một biện pháp chấm dứt hôn nhân được thừa nhận từ rất sớm trong luật Việt Nam. Tại Bộ Quốc triều hình luật Điều 308 có ghi: “Phàm chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng mà không đi lại (vợ được trình với quan sở tại và xã quan làm chứng), thì mất vợ. Nếu vợ đã có con, thì cho hạn 1 năm. Vì việc quan phải đi xa , thì không theo luật này. Nếu đã bỏ vợ, mà lại ngăn cản người khác lấy vợ mình, thì phải tội biếm”. Thực ra, điều luật được viết không tốt lắm, nhưng thực tiễn ly hôn vẫn được ghi nhận như một biện pháp chế tài dành cho người chồng vi phạm nghĩa vụ đối với vợ và gia đình. Ngoài ra, người làm luật cũng thừa nhận việc ly hôn do sự thuận tình của vợ và chồng ( Vũ Văn Mẫu, Dân luật Việt Nam lược khảo, Sài gòn, 1962, tr. 559 và 560. ): bằng cách cùng nhau thảo một văn thư, vợ chồng bày tỏ ý chí về việc chấm dứt cuộc sống chung và việc ly hôn có hiệu lực sau khi người chồng ký và người vợ điểm chỉ vào giấy đó mà không cần có sự can thiệp của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Việc ly hôn mang tính chất chế tài đối với người chồng cũng được ghi nhận tại Bộ luật Gia Long Điều 108, trong các trường hợp được dự kiến tương tự như luật thời Lê. Điều 108 Bộ luật Gia Long còn cho phép người vợ được chấm dứt quan hệ hôn nhân để kết hôn với người khác trong trường hợp người chồng mất tích do loạn lạc (Thực ra, Điều 108 nói rằng nếu chồng bỏ trốn và biệt tăm mà trong thời gian ba năm, vợ cũng bỏ trốn mà không nộp đơn cho Toà án hoặc tự ý cải giá, thì vợ sẽ bị phạt. Chính trong các giải thích chính thức dưới điều luật đó (lấy từ Bộ luật Nhà Thanh) mà quyền xin ly hôn của người vợ được thừa nhận: xem Philastre, Code annamite, tome 1, Paris Leroux, 1909, tr. 542 và 543. Cần lưu ý rằng, người vợ trong trường hợp này xin ly hôn để kết hôn với người khác. Ta không biết liệu người vợ có thể xin ly hôn dù không kết hôn với ai khác. ). Việc ly hôn thuận tình cũng được cho phép trong trường hợp vợ chồng không hợp tính tình. Tuy nhiên, do chế độ gia trưởng dưới thời Nguyễn được xây dựng theo khuôn mẫu Trung Quốc, vai trò của người đàn ông hoàn toàn áp đảo vai trò của người đàn bà, cả trong quan hệ gia đình và quan hệ xã hội, ly hôn do sự thuận tình, một giao dịch đòi hỏi vợ và chồng đều có quyền tự do bày tỏ hoặc không bày tỏ ý chí, trở thành một chế định không thích hợp với nền nếp tư duy pháp lý đặt cơ sở cho hệ thống pháp luật gia đình thời Nguyễn. Nói rõ hơn, có thể tin rằng trong hệ thống pháp luật gia đình dựa trên chế độ phụ quyền, hầu hết các trường hợp thuận tình ly hôn về thực chất là các trường hợp ly hôn theo sáng kiến của người chồng, người vợ chỉ chấp nhận hoặc cam chịu.

Luật cận đại. Trong thời kỳ thuộc địa, chế định ly hôn được xây dựng dựa theo khuôn mẫu Pháp đồng thời vẫn bảo vệ các quyền và lợi ích của người chồng (Dân Luật giản yếu thiên thứ VI, BLDS Bắc Điều 116 đến 150; BLDS Trung Điều 115 đến 147). Việc ly hôn do Toà án quyết định trong những trường hợp được luật dự kiến. Cần lưu ý rằng dù chịu ảnh hưởng luật của Pháp cùng thời kỳ, luật Việt Nam lại thừa nhận khả năng ly hôn do sự thuận tình của vợ và chồng, điều mà luật của Pháp cùng thời kỳ không thừa nhận. Ngoài ra, Dân luật giản yếu còn ghi nhận quyền xin ly hôn trong trường hợp vợ hoặc chồng mất tích, như trong Bộ luật Gia Long.

Quyền xin ly hôn được thừa nhận cho cả vợ và chồng; nhưng người vợ không có quyền xin ly hôn vì lý do người chồng ngoại tình, trong khi người chồng lại có quyền xin ly hôn với lý do người vợ ngoại tình.

Người vợ ly hôn, khi ra khỏi nhà chồng, được phép mang đi quần áo, tư trang, đồ dùng cá nhân. Việc phân chia các tài sản có giá trị lớn được thực hiện theo các thoả thuận trước trong hôn ước; nếu không có hôn ước, thì theo các quy định của pháp luật. Các giải pháp của luật về phân chia tài sản giữa vợ chồng sau khi ly hôn được xây dựng tùy theo gia đình có hay không có con và người vợ có hay không có ngoại tình ( Con trong gia đình là các con của chồng, bất kể con đó do người vợ chính hoặc những người vợ hai sinh ra. Trái lại, hình như người làm luật thời thuộc địa không tính đến con riêng của người vợ khi xây dựng các quy định về phân chia tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn: nếu vợ có con riêng mà chồng không có con, thì việc phân chia tài sản được thực hiện theo các quy định áp dụng cho trường hợp không có con. Về việc phân chia tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn trong các BLDS Bắc, Trung, có thể xem, ví dụ: Vũ Văn Mẫu, Dân luật Việt Nam lược khảo, q.1, đd, tr. 601 đến 604.). Việc trông giữ con được ưu tiên giao cho người cha, trừ trường hợp việc giao con cho người mẹ hoặc một người thứ ba tỏ ra tốt hơn cho lợi ích của con. Con đủ 15 tuổi có thể được giao cho cha hoặc mẹ theo nguyện vọng của mình.

Luật hiện đại. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, ly hôn được xem như một trong những biện pháp giải phóng phụ nữ khỏi sự kềm hãm của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến. Văn bản đầu tiên có những quy tắc pháp lý mới về ly hôn là Sắc lệnh số 159-SL ngày 17/11/1950, một văn bản rất ngắn, gọn và không có đầy đủ các quy tắc cần thiết, nhưng thể hiện được chủ trương của người làm luật xoá bỏ hệ thống pháp lý về ly hôn dựa trên quan niệm bất bình đẳng giữa nam và nữ ( Sắc lệnh thừa nhận khả năng ly hôn do lỗi, do một bên mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo, thậm chí do không hợp tính tình (Điều 2), cũng như do có sự thuận tình giữa vợ và chồng về việc chấm dứt cuộc sống chung (Điều 3). Nói chung, các trường hợp ly hôn trong Sắc lệnh được dự kiến trên cơ sở tham khảo và vận dụng các văn bản luật trước đó, trong điều kiện tôn trọng nguyên tắc không phân biệt đối xử theo giới tính.). Đến năm 1959, người làm luật bắt đầu xây dựng chế độ ly hôn mới dựa trên tư tưởng chủ đạo theo đó, việc ly hôn được cho phép một khi “tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” (Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 Điều 26). Trong chế độ ly hôn mới đó, các trường hợp ly hôn được phân loại tùy theo yêu cầu ly hôn xuất phát từ ý chí của cả vợ và chồng hay của một trong hai người, chứ không căn cứ vào tính chất, đặc điểm của các sự kiện được coi là nguyên nhân của sự tan vỡ quan hệ vợ chồng, như trước.

Trong thời kỳ đất nước chia đôi, người làm luật miền Nam có lúc cấm ly hôn vì lý do tôn giáo (Luật gia đình năm 1959 Điều 55); nhưng quy định cấm này có tuổi thọ không dài lắm. Từ năm 1964 cho đến khi hệ thống luật của chế độ Sài Gòn bị huỷ bỏ, việc ly hôn ở miền Nam được chi phối bởi các quy tắc được xây dựng từ sự pha trộn giữa luật thời kỳ thuộc địa và luật của Pháp, nghĩa là vẫn đặc biệt chú trọng việc bảo vệ các quyền lợi của người chồng.

Sau khi đất nước thống nhất, pháp luật về ly hôn được tiếp tục hoàn thiện trên cơ sở quan niệm ly hôn được xây dựng trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1959. Lúc đầu, chế định ly hôn được phát triển dựa trên tư tưởng giải phóng phụ nữ; dần dần, việc quan tâm hoàn thiện chế định này được thôi thúc nhiều hơn bởi yêu cầu bảo đảm sự phát triển lành mạnh của con trong môi trường gia đình không hạnh phúc và đổ vỡ do những mâu thuẫn không thể điều hoà giữa cha và mẹ. Yêu cầu đó được khẳng định rõ nét trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và được củng cố trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Một cách tổng quát, ly hôn trong luật Việt Nam hiện đại được ghi nhận như một biện pháp bảo đảm tự do cá nhân (của vợ và của chồng) trong quan hệ gia đình, đồng thời bảo đảm sự dung hoà giữa các lợi ích trở nên trái ngược do sự quay lưng của vợ chồng đối với nhau, trong đó có cả (và nhất là) lợi ích của con cái sinh ra từ cuộc hôn nhân giữa các đương sự.

Các trường hợp ly hôn trong luật Việt Nam hiện hành

Việc ly hôn có thể được quyết định theo đơn chung của vợ và chồng hoặc theo đơn riêng của một trong hai người. Cũng được đồng hoá với đơn chung của hai người, đơn chỉ do một người lập nhưng có chữ ký của người còn lại thể hiện sự chấp nhận của người còn lại đối với “sáng kiến ly hôn” của người đứng đơn. Xin ly hôn trong trường hợp có người bị tuyên bố mất tích cũng có thể được coi như một trường hợp đặc thù của giả thiết chung trong đó chỉ có một người có đơn yêu cầu được ly hôn: tìm hiểu ý chí của người mất tích là điều vô nghĩa.

Đặc trưng của chế định ly hôn trong luật Việt Nam hiện hành

Trong ly hôn không có yếu tố lỗi. Đơn giản hôn nhân không thể được duy trì chỉ bởi vì không thể đạt được mục đích của nó. Trong quan niệm của người làm luật Việt Nam hiện đại, hôn nhân đích thực là điều kiện vun đắp tình yêu giữa một người đàn ông và một người đàn bà. Nếu, sau một thời gian chung sống, tình yêu không những không được vun đắp mà còn bị mài mòn và sự mài mòn không thể cứu chữa ( Nghĩa là “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài” (Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 89 khoản 1).

thì cuộc hôn nhân coi như thất bại. Tuy nhiên, sự thất bại của hôn nhân không nhất thiết dẫn đến sự tan rã của gia đình, bởi, trong quan niệm của tục lệ, chất liệu xây dựng và củng cố gia đình thực ra không phải là tình yêu mà là “nghĩa”. Chính từ hôn nhân mà gia đình được tạo ra và sống trong đó, các thành viên của gia đình được nuôi dưỡng, chăm sóc, che chở, bảo vệ, cũng như có điều kiện phát triển trí tuệ và nhân cách, xây dựng và củng cố sự nghiệp của mình. Họ cùng hưởng hạnh phúc và cùng chia sẻ bất hạnh. “Nghĩa” được hình thành và lớn lên từ đó. Nếu giữa vợ và chồng có tình yêu, thì tình yêu đó được lồng trong “nghĩa” (và chính “nghĩa” nuôi dưỡng tình yêu); nếu tình yêu không tồn tại, “nghĩa” vẫn có thể tự mình phát triển. Suy cho cùng, “nghĩa” là động lực thúc đẩy vợ và chồng nỗ lực đạt đến mục đích của hôn nhân - xây dựng, duy trì và phát triển gia đình. Chính sự suy yếu của “nghĩa” khiến cho hôn nhân khó có thể vươn tới mục đích của nó. Quá trình suy yếu không thể cứu chữa của “nghĩa” luôn diễn ra đồng thời với quá trình tan rã của gia đình. Có trường hợp sự tan rã chưa kịp đi vào giai đoạn quyết định, thì vợ hoặc chồng chết: người còn sống được tự do. Có trường hợp sự tan rã đi vào giai đoạn quyết định ngay trong lúc cả vợ và chồng đều còn sống: vợ và chồng quyết định chấm dứt cuộc sống chung bằng con đường ly hôn.

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con. Thực tiễn ghi nhận rằng trong phần lớn trường hợp, người sẽ phải đương đầu với nhiều khó khăn về vật chất và tinh thần sau khi ly hôn là người vợ và các con sinh ra từ hôn nhân, nhất là các con chưa thành niên hoặc tật nguyền và không có khả năng lao động. Do đó, việc giải quyết yêu cầu ly hôn và các vấn đề phát sinh sau khi ly hôn phải được thực hiện dựa trên tư tưởng chủ đạo theo đó, quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con được ưu tiên bảo vệ. Luật cho phép Toà án chủ động can thiệp trong trường hợp thuận tình ly hôn, một khi các thoả thuận giữa vợ và chồng không thể hiện sự bảo đảm đúng mức các quyền và lợi ích đó (Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 90). Cả trong trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên, thẩm phán cũng có thể chủ động can thiệp vào việc giải quyết vấn đề trông giữ con (trong khi chỉ có thể can thiệp vào việc giải quyết các vấn đề về hệ quả tài sản của việc ly hôn, nếu có yêu cầu của một trong các bên hoặc của cả hai bên). Khi can thiệp, thẩm phán phải đứng vững trên nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con để quyết định.

MỤC II. ĐIỀU KIỆN LY HÔN

Hôn nhân có giá trị và chưa chấm dứt.

Hôn nhân chấm dứt bằng con đường ly hôn phải là hôn nhân có giá trị, nghĩa là được xác lập phù hợp với các quy định của pháp luật về kết hôn và đăng ký kết hôn. Ta đã nói rằng trừ những trường hợp ngoại lệ, những người chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn khi xin ly hôn chỉ nhận được một quyết định của Toà án tuyên bố không thừa nhận quan hệ vợ chồng. Nếu hôn nhân đã chấm dứt do vợ hoặc chồng chết, thì việc xin ly hôn cũng không còn ý nghĩa: trong trường hợp vụ án ly hôn đang diễn tiến mà một trong hai bên chết, thì Toà án xếp hồ sơ và người còn sống được trả về tình trạng độc thân với tư cách vợ (chồng) goá chứ không phải là vợ (chồng) ly hôn. Nếu hôn nhân bị huỷ theo một bản án có hiệu lực pháp luật thì việc ly hôn cũng không thể được xem xét, vì không có đối tượng.

Năng lực hành vi của người xin ly hôn.

Người yêu cầu Toà án quyết định cho ly hôn phải có năng lực hành vi. Người mất năng lực hành vi không thể nộp đơn xin ly hôn và người giám hộ của người mất năng lực hành vi cũng không thể làm việc đó thay cho người được giám hộ: ta nói rằng người mất năng lực hành vi không có năng lực pháp luật ly hôn ( Bởi nếu chỉ mất năng lực hành vi giao dịch, thì giao dịch vẫn có thể được xác lập thông qua vai trò của người đại diện. Mất năng lực pháp luật ly hôn, đương sự không có quyền ly hôn và do đó, vấn đề đại diện không được đặt ra. ).

Sự tự nguyện của người xin ly hôn.

Việc nộp đơn xin ly hôn phải xuất phát từ ý chí tự nguyện của người đứng đơn. Việc kiểm tra sự tự nguyện trong ly hôn thuộc trách nhiệm của thẩm phán. Nếu người viết đơn xin ly hôn hoặc ký vào đơn xin ly hôn trong điều kiện không có sự ưng thuận hoặc sự ưng thuận không được hoàn hảo, thì Toà án có thể bác đơn mà không cần xét nội dung của đơn. Không chỉ tự nguyện trong việc xin ly hôn, người xin ly hôn còn phải thực sự mong muốn ly hôn và sự mong muốn phải được duy trì trong suốt thời gian diễn ra vụ án ly hôn.

Không có điều kiện về duy trì hôn nhân trong thời gian tối thiểu.

Khác với luật của nhiều nước, luật Việt Nam, trong trường hợp thuận tình ly hôn, không áp đặt một thời kỳ hôn nhân tối thiểu kể từ ngày kết hôn mà sau thời kỳ đó, đơn xin ly hôn mới có thể được Toà án thụ lý ( Điều kiện sống chung tối thiểu được luật áp đặt nhằm mục đích hạn chế sự phát triển của hiện tượng yêu cuồng sống vội, nhất là trong giới trẻ. Hôn nhân là một quan hệ nghiêm túc. Bởi vậy không thể mới kết hôn ngày hôm trước đã xin ly hôn vào ngày hôm sau.

Trong thời kỳ thuộc điạ, người làm luật quy định rằng các bên không thể xin ly hôn do sự thuận tình, nếu thời gian chung sống chưa quá hai năm (Dân luật giản yếu Thiên VI; BLDS Bắc Điều 121; BLDS Trung Điều 120). Riêng thời hạn hai năm theo BLDS Trung Điều 120 được tăng lên thành 5 năm do hiệu lực của Dụ ngày 06/08/1945). Thậm chí, Dân luật giản yếu còn quyết định rằng nếu đã chung sống trong một gian đủ dài (20 năm), thì việc thuận tình ly hôn không thể được chấp nhận nữa; cũng không có thuận tình ly hôn trong trường hợp chồng dưới 25 tuổi, vợ dưới 21 tuổi hoặc cả hai đều quá 45 tuổi; mặt khác, vợ chồng muốn thuận tình ly hôn phải hỏi ý cha mẹ hoặc người thân thuộc nào đã đồng ý cho các bên kết hôn, nếu những người này còn sống ). Về mặt lý thuyết, vợ hoặc chồng hoặc cả hai có thể xin ly hôn ngay sau khi kết hôn; tuy nhiên, trong khung cảnh của tục lệ trong lĩnh vực gia đình, khả năng này khó xảy ra trong thực tiễn. Dẫu sao, đã có trường hợp vợ và chồng xin thuận tình ly hôn chỉ một thời gian ngắn (vài tháng chẳng hạn) sau khi kết hôn. Trên nguyên tắc, Toà án phải tiếp nhận đơn xin ly hôn trong trường hợp này và phải tiến hành thủ tụng tố tụng ly hôn; còn giải quyết yêu cầu ly hôn ra sao là chuyện khác.

Luật cũng không có quy định về duy trì hôn nhân trong thời gian tối thiểu cả đối với trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên. Không loại trừ khả năng một bên nộp đơn xin ly hôn chỉ một thời gian ngắn sau khi sống chung. Tất nhiên, việc ly hôn, dù theo yêu cầu của một bên, chỉ có thể được giải quyết theo một thủ tục nhất định sẽ được phân tích sau đây, mà việc thực hiện cần có thời gian. Có thể sau một thời gian tham gia vào thủ tục ly hôn, người xin ly hôn sẽ suy nghĩ lại và rút đơn. Sẽ đơn giản hơn, nếu thẩm phán được quyền bác đơn ngay để không phải mất thì giờ cho những vụ ly hôn được yêu cầu một cách thiếu cân nhắc xuất phát từ sự thiếu kinh nghiệm của người chồng trẻ hoặc người vợ trẻ trong việc giải quyết những vấn đề của cuộc sống chung.

Trường hợp người vợ đang mang thai hoặc nuôi con nhỏ.

Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 85 khoản 2, trong trường hợp vợ có thai hoặûc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn. Ta ghi nhận được ngay một số quy tắc đáng chú ý từ câu chữ của điều luật đó.

- Điều luật không được áp dụng trong trường hợp người xin ly hôn lại là người vợ. Tuy nhiên, bởi vì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn, có vẻ như việc ly hôn do cả vợ và chồng cùng yêu cầu cũng không thể được Toà án thụ lý chừng nào người vợ còn đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Càng khó có thể được Toà án tiếp nhận, đơn yêu cầu của người chồng có chữ ký chấp nhận của người vợ trong hoàn cảnh đó. Trái lại, có thể đơn vẫn được tiếp nhận, nếu người đứng đơn là người vợ và đơn được nộp với sự chấp nhận của người chồng.

- Điều luật được áp dụng, ngay cả trong trường hợp người vợ đang mang thai với người khác hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi sinh ra do quan hệ xác thịt với người khác ( Toà án nhân dân tối cao, về phần mình, khẳng định rằng việc “treo” quyền xin ly hôn của người chồng trong trường hợp người vợ có thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi phải được áp dụng mà không phân biệt tùy theo tác giả của bào thai hoặc của đứa con là người chồng hay người nào khác: xem Nghị quyết số 02 đã dẫn, 6. ). Nói chung, nếu biết rằng thai nhi hoặc trẻ được sinh ra không phải là tác phẩm của mình và muốn chấm dứt quan hệ vợ chồng, thì, trong điều kiện tạm thời không được phép nộp đơn xin ly hôn, người chồng thường chọn giải pháp cắt đứt quan hệ chung sống trên thực tế (ly thân thực tế) trong thời gian chờ đợi.

- Điều luật dường như cũng không được áp dụng trong trường hợp con chết trước khi được sinh ra hoặc sau khi được sinh ra một thời gian ngắn. Tuy nhiên, hầu như không có thẩm phán nào chấp nhận tiến hành xét xử trong trường hợp này chừng nào người vợ chưa thực sự phục hồi sức khoẻ và trạng thái tâm lý.

- Luật không phân biệt con dưới 12 tháng tuổi là con ruột hay con nuôi. Có thể hình dung: vợ nhận con nuôi dưới 12 tháng tuổi mà không có sự đồng ý của chồng; do giận dữ, người chồng quyết định xin ly hôn. Trong khung cảnh của luật thực định, dường như Toà án không thể tiếp nhận đơn xin ly hôn của người chồng trong trường hợp này, chừng nào con nuôi của người vợ chưa đủ 12 tháng tuổi.

- Luật không cấm người vợ xin ly hôn trong trường hợp người chồng nhận con nuôi dưới 12 tháng tuổi mà không có sự đồng ý của mình. Đây là giả thiết hầu như chỉ có ý nghĩa của một bài tập trường lớp, bởi người thực sự quan tâm đến việc nuôi con nuôi thường là người vợ hơn là người chồng (ngay cả trong trường hợp nuôi con nuôi để có người kế tục dòng họ bên chồng).

Trường hợp vợ hoặc chồng của người đứng đơn mất năng lực hành vi hoặc không nhận thức được hành vi của mình.

Sự kiện vợ hoặc chồng mất năng lực hành vi hoặc không nhận thức được hành vi của mình không gây trở ngại cho việc xin ly hôn của người còn lại. Tuy nhiên, công việc của thẩm phán sẽ trở nên khá tế nhị trong điều kiện việc tiến hành hoà giải là không thể được do người mất năng lực hành vi, người điên không thể bày tỏ ý chí của mình. Thông thường, người xin ly hôn với vợ hoặc chồng mất năng lực hành vi hoặc không nhận thức được hành vi của mình không chịu thực hiện chức năng giám hộ đương nhiên đối với người sau này. Thực tiễn ghi nhận rằng hầu như không thấy có cơ quan Nhà nước có thẩm quyền yêu cầu chỉ định người giám hộ thay thế trong trường hợp này; dù có đi nữa, thì vai trò của người giám hộ của bên không xin ly hôn trong các vụ án ly hôn cũng chưa được xác định rõ nét trong khung cảnh của luật viết, như đã nói.

Trường hợp vợ hoặc chồng của người đứng đơn bị hạn chế năng lực hành vi.

Một khi vợ hoặc chồng bị tuyên bố hạn chế năng lực hành vi, thì nhiều khả năng chồng hoặc vợ còn lại sẽ được chỉ định làm người đại diện. Bởi vậy, muốn xin ly hôn, thì vợ hoặc chồng là người đại diện phải xin chấm dứt vai trò đại diện của mình đối với người còn lại.

Vấn đề đặt ra: nếu việc ly hôn là do “sáng kiến” của chính người bị hạn chế năng lực hành vi, thì liệu người này có thể tự mình đứng đơn yêu cầu hoặc phải thông qua vai trò của người đại diện ? Cũng như đối với việc giám hộ người đã thành niên mà không nhận thức được hành vi của mình, các quy định của BLDS liên quan đến việc đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vi chủ yếu chi phối các giao dịch có tính chất tài sản; bởi vậy, không thể tìm trong các điều luật viết hiện hành các quy tắc liên quan đến các câu hỏi vừa nêu. Dẫu sao, có thể tin rằng người bị hạn chế năng lực hành vi, trong khung cảnh của luật thực định, chỉ bị kiểm soát để tránh sa vào những vụ phá tán tài sản; các giao dịch mang tính chất phi tài sản, như ly hôn, có thể được người này tự mình xác lập, thực hiện mà không cần sự đồng ý của người đại diện.

MỤC III. THỦ TỤC LY HÔN

Thủ tục riêng.

Thông thường, các quy định về thủ tục tố tụng được ghi nhận trong các văn bản về tố tụng. Riêng các thủ tục ly hôn, cả trong luật viết thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám 1945 và trong luật viết hiện đại, đều được chi phối chủ yếu bởi các quy tắc nằm trong luật nội dung. Điều đó cho thấy tính chất đặc biệt của thủ tục ly hôn so với thủ tục tố tụng áp dụng cho các vụ án khác. Tại sao lại có sự đặc biệt đó ? Có nhiều cách lý giải; một trong những cách lý giải đó gắn liền với chính sách chung về gia đình: Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho việc xây dựng gia đình hạnh phúc, hoà thuận; Nhà nước không khuyến khích và cũng không tạo điều kiện cho sự huỷ diệt gia đình bằng con đường ly hôn. Về mặt nội dung, tính chất đặc biệt của thủ tục ly hôn thể hiện thành tính chất phức tạp, khiến cho thủ tục ly hôn, ở góc nhìn của các đương sự, dường như lại trở thành thủ tục hạn chế ly hôn.

Nộp đơn

Người đứng đơn. Người đứng đơn xin ly hôn chỉ có thể là vợ, chồng: luật không có quy định cho phép người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật (trong trường hợp vợ, chồng bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi) đứng đơn thay cho người được giám hộ hoặc người được đại diện. Luật cũng không dự kiến cho Viện kiểm sát hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khả năng yêu cầu ly hôn thay cho các đương sự.

Nơi nộp đơn. Theo Bộ luật tố tụng dân sự 2004 Điều 35 khoản 1 điểm a, Toà án có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn theo yêu cầu của một bên là Toà án nơi cư trú hoặc nơi làm việc của bị đơn; Điều 35 khoản 2 điểm h quy định rằng Toà án giải quyết yêu cầu thuận tình ly hôn là Toà án nơi cư trú của vợ hoặc chồng hoặc của cả hai.

Hoà giải

Hoà giải tại cơ sở

Hoạt động xã hội. Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 86, Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hoà giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hoà giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hoà giải ở cơ sở. Ta có nhận xét:

- Hoà giải ở cơ sở là một biện pháp được khuyến khích, nhưng không bắt buộc và không phải là bước cần thiết trước khi Toà án thụ lý hồ sơ ly hôn;

- Hoà giải ở cơ sở có thể được tiến hành, dù có sự thuận tình ly hôn giữa vợ và chồng hay chỉ có yêu cầu ly hôn của một người.

Theo Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở ngày 25/12/1998 Điều 10, việc hoà giải có thể được tiến hành theo sáng kiến của Tổ trưởng hoặc tổ viên tổ hoà giải, theo đề nghị của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác hoặc theo yêu cầu của một bên hoặc các bên tranh chấp. Vậy nghĩa là việc hoà giải có thể được tiến hành ngay cả trong trường hợp các bên xin ly hôn không có yêu cầu hoà giải tại cơ sở.

Về mặt lý thuyết việc hoà giải ở cơ sở có thể được tiến hành song song với việc hoà giải ở Toà án, thậm chí song song cả với quá trình xét xử tại Toà án ( Trong nhiều trường hợp, Toà án, sau khi nhận đơn xin ly hôn, gửi trả đơn về UBND địa phương nơi cư trú của vợ chồng để tiến hành hoà giải trước tại cơ sở và chỉ nhận lại hồ sơ sau khi các nỗ lực hoà giải tại cơ sở thất bại.

Có khi các đương sự nộp đơn xin ly hôn tại Toà án trong khi cơ sở đang tiến hành hoà giải. Nếu biết được rằng cơ sở đang thực hiện công việc của mình, Toà án sẽ hoãn thủ tục tố tụng cho đến khi cơ sở kết thúc công việc.): nếu hoà giải thành tại cơ sở, thì, một cách hợp lý, các bên sẽ tự nguyện rút đơn tại Toà án. Việc hoà giải ở cơ sở cũng có thể được thực hiện như là bước đầu của thủ tục ly hôn: nếu hoà giải không thành, các bên hoặc một bên sẽ chính thức nộp đơn xin ly hôn cho Toà án.

Nội dung hoà giải. Luật viết không có quy định riêng về nội dung hoà giải tại cơ sở liên quan đến việc ly hôn. Tuy nhiên, có thể tin rằng với mục đích hàn gắn những rạn nứt trong quan hệ giữa những người có liên quan, việc hoà giải ở cơ sở chỉ có thể nhắm vào ý định ly hôn của các đương sự và phải được thực hiện nhằm mục đích làm cho các đương sự từ bỏ ý định đó. Trong trường hợp các đương sự kiên quyết muốn ly hôn, thì tổ, ban hoà giải phải lập biên bản hoà giải không thành và chuyển hồ sơ cho Toà án. Dù không có quy định rành mạch của luật viết, ta vẫn khẳng định được rằng vấn đề con cái và tài sản không thuộc nội dung hoà giải ở cơ sở trong các vụ ly hôn: các vấn đề này chỉ được đặt ra một khi việc ly hôn được xác định là không thể tránh khỏi và việc xác định đó không thuộc thẩm quyền của người làm công tác hoà giải ở cơ sở.

Hiệu lực của việc hoà giải. Mang tính chất của một hoạt động xã hội được Nhà nước tổ chức, việc hoà giải ở cơ sở không có hiệu lực bắt buộc đối với các bên được hoà giải. Theo Pháp lệnh ngày 25/12/1998, đã dẫn, Điều 14, “Tổ viên tổ hoà giải động viên, thuyết phục các bên thực hiện thoả thuận”. Về mặt lý thuyết, những người được hoà giải trong một vụ ly hôn vẫn có thể nộp đơn xin ly hôn tại Toà án, dù đã được hoà giải thành ở cơ sở, thậm chí ngay sau khi được hoà giải thành ở đó. Dẫu sao, việc thực hiện các thoả thuận đạt được nhờ hoà giải vẫn có thể được bảo đảm bằng ý thức xã hội.

Hoà giải tại Toà án

Một khâu chính thức trong quá trình tố tụng. Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 88, sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Toà án tiến hành hoà giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Khác với việc hoà giải ở cơ sở, việc hoà giải của Toà án là một khâu chính thức của thủ tục tố tụng ly hôn: việc xét xử vụ ly hôn chỉ được tiến hành sau khi việc hoà giải của Toà án không thành hoặc không thể được tiến hành do một bên vắng mặt (cố tình hoặc do một nguyên nhân gì khác), mất tích hoặc ở trong tình trạng không nhận thức được hành vi của mình. Việc hoà giải phải được tiến hành, dù việc ly hôn được thụ lý theo đơn chung của vợ và chồng hay theo đơn riêng của một bên.

Khi hoà giải, vợ, chồng và những người có quyền và lợi ích liên quan phải có mặt. Trong trường hợp bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, thì Toà án đưa vụ án ra xét xử (BLTTDS 2004 Điều 182 khoản 1): việc hoà giải coi như không thành. Có lẽ điều luật chỉ được áp dụng cho trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên ( Bởi vậy, trong điều luật mới có thuật ngữ “bị đơn”): nếu cả hai bên đều nộp đơn xin thuận tình ly hôn mà một bên lại không có mặt để hoà giải, thì hẳn Toà án phải đình chỉ vụ án và xếp hồ sơ. Hơn nữa, Toà án chỉ đưa vụ án ra xử, nếu đã mời các đương sự đến để hoà giải mà chỉ nguyên đơn có mặt: nếu nguyên đơn vắng mặt mà không có lý do chính đáng, dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, thì Toà án cũng xếp hồ sơ (BLTTDS 2004 Điều 192 khoản 1 điểm e), ngay cả trong trường hợp bị đơn có mặt.

Nội dung hoà giải. Cũng như người làm công tác hoà giải ở cơ sở, thẩm phán, khi hoà giải trong một vụ ly hôn, phải cố gắng thuyết phục các đương sự rút đơn xin ly hôn. Tuy nhiên, nếu ít nhất một các đương sự kiên quyết giữ ý định ly hôn, thì thẩm phán có thể tiếp tục hoà giải những bất đồng giữa các đương sự trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến hậu quả của việc ly hôn, đặc biệt là các vấn đề về con cái và tài sản. Việc hoà giải đối với các bất đồng trong việc giải quyết các vấn đề sau ly hôn chỉ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc xét xử vụ án ly hôn sau này: ngay cả trong trường hợp hoà giải thành đối với việc giải quyết những vấn đề này, hiệu lực của việc hoà giải còn tùy thuộc vào kết quả xét xử vụ án ly hôn; nếu yêu cầu ly hôn bị bác, thì các thoả thuận sau ly hôn đạt được trong quá trình hoà giải coi như không có.

Kết quả hoà giải. Ta phân biệt hai trường hợp.

- Nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết những vấn đề của vợ và chồng và tiếp tục cuộc sống chung, thì thẩm phán lập biên bản hoà giải thành (BLTTDS 2004 Điều 186 khoản 2). Nếu trong hạn 7 ngày kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà có đương sự thay đổi ý kiến, thì Toà án đưa vụ án ra xét xử. Nếu trong thời hạn đó không có sự thay đổi ý kiến hoặc phản đối, thì Toà án ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự (Điều 187). Quyết định này có hiệu lực pháp luật (cùng điều luật) và không thể được kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.

Tất nhiên, dù hoà giải thành, cuộc sống chung sau đó vẫn có thể lâm vào khủng hoảng một lần nữa. Luật viết hiện hành không có quy định thời hạn tối thiểu mà sau thời hạn đó, vợ hoặc chồng hoặc cả vợ và chồng có thể nộp lại đơn xin ly hôn. Trước đây khi hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, Toà án nhân dân tối cao nói rằng nếu Toà án bác đơn xin ly hôn, thì người bị bác đơn chỉ được xin ly hôn lại sau một năm (Và Toà án nói tiếp: “Thời hạn này hợp lý để cho hai bên có điều kiện suy nghĩ lại về quyết định của mình”. Xem: Nghị quyết số 01ngày 20/01/1988 của Hội đồng thẩm phán TANDTC,7.

Cần lưu ý rằng, ly hôn được xem xét trong khuôn khổ một vụ án dân sự. Do đó, người bị bác đơn ở cấp sơ thẩm có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.). Giải pháp này được lấy lại trong Nghị quyết số 02 ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ( Xem 10, e. Điều đáng chú ý: thời hạn 1 năm được ấn định cho tất cả các trường hợp mà đơn xin ly hôn bị bác. Trong khi đó, cũng theo Nghị quyết đã dẫn, nếu người chồng nộp đơn xin ly hôn trong thời gian người vợ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi và kiên quyết không rút đơn dù đã được Toà án giải thích, thì Toà án sẽ ra quyết định bác đơn: xem 6, b. Kết hợp các giải pháp, ta nói rằng nếu người chồng nộp đơn xin ly hôn trong lúc người vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi và bị bác đơn, thì người này chỉ có thể nộp lại đơn xin ly hôn sau một năm kể từ ngày đơn đầu tiên bị bác, chứ không phải từ ngày con đủ 12 tháng tuổi.) Song, khó có thể nói rằng quy tắc này cũng được áp dụng cho trường hợp hoà giải thành: trên cơ sở hoà giải thành, các đương sự tự nguyện rút đơn chứ không bị bác đơn. Dẫu sao, chắc chắn rằng khi nộp lại đơn xin ly hôn, các đương sự hoặc một trong hai người sẽ xác nhận một lần nữa rằng cuộc sống chung lại đổ vỡ sau khi đã được hàn gắn.

- Nếu các đương sự kiên quyết xin ly hôn, nhưng lại thoả thuận được với nhau về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến hậu quả của việc ly hôn, thì thẩm phán vẫn lập biên bản hoà giải không thành. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra lập biên bản mà vợ, chồng không thay đổi ý kiến và Viện kiểm sát không phản đối, thì Toà án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không phải mở phiên toà xét xử khi có đủ những điều kiện ghi nhận tại Nghị quyết số 02 đã dẫn, 9, a; nếu không có đủ các điều kiện ghi nhận tại văn bản đó, thì Toà án vẫn lập biên bản hoà giải không thành và đưa vụ án ra xét xử, những thoả thuận giữa các đương sự về các vấn đề sau ly hôn được thẩm phán ghi nhận và được tiếp tục xem xét trong quá trình xét xử.

Nếu các đương sự kiên quyết xin ly hôn và không thoả thuận được với nhau về cách giải quyết các vấn đề sau ly hôn, bất chấp những nỗ lực hoà giải của thẩm phán, thì thẩm phán cũng phải lập biên bản hoà giải không thành và đưa vụ án ra xét xử.

Trường hợp vợ hoặc chồng bị tuyên bố mất tích hoặc không nhận thức được hành vi của mình. Theo BLDS 2005 Điều 78 khoản 2, trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn, thì Toà án giải quyết cho ly hôn. Thủ tục hoà giải không được tiến hành trong trường hợp này, vì không có đủ chủ thể (BLTTDS 2004 Điều 182 khoản 2).

Quyết định đối với yêu cầu ly hôn

Đổ vỡ tự nhiên và đổ vỡ không tự nhiên. Theo Luật hôn nhân và gia đình Điều 89 khoản 1, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, thì Toà án quyết định cho ly hôn.

Vấn đề khá tế nhị: không loại trừ khả năng tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được là tất cả những gì mà một bên hoặc cả hai bên cố tình tạo ra chỉ để ly hôn cho được. Muốn ra được một quyết định đúng đắn, thẩm phán không thể chỉ dừng lại ở việc ghi nhận sự hiện hữu của tình trạng mà còn phải kiểm tra tính hiện thực của tình trạng đó, cũng như tính tất yếu của nó với tư cách là hệ quả của một chuỗi các hoạt động giao tiếp hàng ngày giữa vợ và chồng.

Nghị quyết số 02 đã dẫn của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có một số quy định nhằm làm rõ cụm từ “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được” (8, a).

a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức hoà giải nhiều lần;

- Vợ hoặc chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần;

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau, như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1. mục 8 này. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau, vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được;

a.3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

Có thể từ đó nhận thấy rằng Toà án có xu hướng xác định căn cứ ly hôn dựa vào các bằng chứng về những hành vi vi phạm một cách có ý thức các nghĩa vụ hỗ tương giữa vợ và chồng, tức là dựa vào lỗi của một bên hoặc của cả hai bên. Có trường hợp cuộc sống chung không thể được kéo dài, dù không ai có lỗi, ví dụ, trong trường hợp mỗi bên đều chung thuỷ, tôn trọng và giúp đỡ nhau, nhưng không bao giờ có tiếng nói chung.

Các trường hợp ly hôn thông thường:

Mất tích

Ly hôn đương nhiên. Trong trường hợp ly hôn do có người bị tuyên bố mất tích, thì chính quyết định tuyên bố mất tích là căn cứ để ly hôn, thẩm phán không cần (và cũng không có quyền) tìm hiểu gì thêm: cuộc sống chung không thể kéo dài, trước hết vì người yêu cầu không có người để cùng chung sống. Ta nói rằng việc ra quyết định cho ly hôn trong trường hợp này là đương nhiên (Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 89 khoản 1). Luật không nói gì về việc phân chia tài sản trong trường hợp này. Có thể tin rằng sự can thiệp của thẩm phán là cần thiết trong điều kiện một bên, do mất tích, không thể bày tỏ ý chí của mình, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bên đó. Tuy nhiên, trong khung cảnh của luật thực định, thẩm phán chỉ có thể tiến hành thanh toán và phân chia tài sản bằng con đường tư pháp, nếu có yêu cầu của một người nào đó có quyền và lợi ích liên quan đến tài sản của ngườìi mất tích; bên xin ly hôn cũng có thể tự mình lập đề nghị về việc thanh toán và phân chia tài sản và yêu cầu thẩm phán chấp nhận đề nghị đó. Phần tài sản của người bị tuyên bố mất tích sẽ được giao cho người quản lý được chỉ định theo các quy định tại BLDS 2005 Điều 79, dẫn chiếu đến khoản 1 Điều 75. Tất cả những điều này hẳn đều phù hợp với logique suy nghĩ của người làm luật.

Thuận tình ly hôn

Thoả thuận dưới sự giám sát tư pháp. Ta đã nhận xét rằng sự ưng thuận để ly hôn, khác với sự ưng thuận để xác lập bất kỳ một giao dịch nào khác, là sự ưng thuận nhằm chấïm dứt hôn nhân bằng một kết cục cay đắng đối với các đương sự. Trong điều kiện những người bày tỏ sự ưng thuận ràng buộc lẫn nhau bằng quan hệ hôn nhân hợp pháp (và từ quan hệ hôn nhân mà các quan hệ gia đình cũng phát sinh và phát triển đan xen), giữa vợ và chồng cũng như giữa vợ, chồng hoặc cả hai và những thành viên khác trong gia đình, nhất là những thành viên cùng với vợ và chồng sống trong một mái nhà, có sự lệ thuộc về vật chất, về tinh thần hoặc về cả hai. Bởi vậy, không loại trừ khả năng sự thoả thuận giữa vợ và chồng về việc ly hôn chỉ là sự thoả thuận ngoài mặt mà không thực sự phản ánh đầy đủ những gì diễn ra trong nội tâm của các đương sự. Cần đặt sự thoả thuận đó dưới sự kiểm soát của Nhà nước để ngăn ngừa những vụ ly hôn gọi là theo thoả thuận nhưng lại không xuất phát từ sự ưng thuận thực sự tự nguyện của các đương sự.

a. Nội dung kiểm soát

Ý chí thực nghiêm túc và chắc chắn. Không có khó khăn đặc biệt cho việc xác định căn cứ ly hôn trong trường hợp cả vợ và chồng đều kiên quyết chấm dứt quan hệ hôn nhân: khi đó, chính họ sẽ thuyết phục thẩm ra sớm ra quyết định và sẽ cố gắng cung cấp đầy đủ bằng chứng về tính hiện thực của căn cứ xin ly hôn. Trong quá trình hoà giải, thẩm phán cũng có thể tiến hành tất cả các biện pháp điều tra, xác minh cần thiết, thậm chí có thể tìm hiểu để làm rõ động cơ xin ly hôn của các đương sự.

Thế nhưng, vấn đề quan trọng nhất đối với thẩm phán không phải là vì lý do gì các đương sự xin ly hôn, mà liệu giữa các đương sự thực sự có mâu thuẫn không thể điều hoà được, cuộc sống chung không thể kéo dài mà không ảnh hưởng tiêu cực đến sinh hoạt, đến sự nghiệp của mỗi người và nhất là đến sự phát triển của con cái. Nói cách khác, căn cứ để quyết định cho ly hôn là ý chí thực, nghiêm túc và chắc chắn của vợ và chồng về việc chấm dứt quan hệ hôn nhân ( Ý chí thực, nghiêm túc và chắc chắn không thể được coi là tồn tại trong trường hợp vợ và chồng cùng xin ly hôn, nhưng lại tỏ ra tận tuỵ đối với nhau. Sự chuẩn bị thiếu chu đáo cho việc ly hôn thường được phát hiện trong quá trình hoà giải cũng như trong quá trình xem xét các thoả thuận giữa hai bên.

Có trường hợp vợ và chồng cùng xin ly hôn chỉ nhằm mục đích tổ chức lại cuộc sống chung của họ ở một nơi khác và vào một thời điểm khác. Một khi có đủ bằng chứng về mục đích đó, thẩm phán có thể bác đơn xin ly hôn với lý do không có ý chí thực của các đương sự về việc chấm dứt cuộc sống chung. Song, khó có thể nói rằng thẩm phán không làm tròn trách nhiệm của mình trong trường hợp không phát hiện được ý chí thực của các đương sự: thẩm phán phải điều tra, xác minh; còn ý chí thực có thể được che giấu.

Cần phân biệt giữa ý chí thực với lý do thực, động cơ thực: trong nhiều trưòng hợp, vợ và chồng thực sự không còn muốn sống chung với nhau, nhưng lại vì sự thôi thúc của những điều thầm kín mà họ không muốn cho người khác biết (ví dụ, tình trạng bất lực của một người trong sinh hoạt tình dục; sự khác biệt về nhận thức đối với ý nghĩa của quan hệ chăn gối giữa vợ và chồng,...). Trong chừng mực của nguyên tắc tôn trọng đời tư, thẩm phán có quyền tìm hiểu những lý do thực, động cơ thực của việc ly hôn, nhưng không có trách nhiệm phải làm việc đó. Thẩm phán cũng không được chỉ dựa vào việc che giấu lý do thực, động cơ thực để bác đơn xin ly hôn. ).

- Ý chí thực. Mong muốn ly hôn trước hết phải xuất phát từ suy nghĩ được thai nghén trong nội tâm của các đương sự chứ không phải từ những suy nghĩ được cấy vào đầu óc của các đương sự từ bên ngoài. Không kể các trường hợp mà sự ưng thuận để ly hôn được bày tỏ dưới sự đe dọa, dưới sức ép hoặc do sự nhầm lẫn, lừa dối hoặc được bày tỏ trong điều kiện đương sự không nhận thức được hành vi của mình, ý chí không thể được coi là thực, một khi chỉ được bộc lộ do có sự xúi giục, gạ gẫm của người khác. Thực ra, cũng có trường hợp đương sự mong muốn ly hôn, nhưng lại chỉ dám bày tỏ ý chí của mình khi được một người khác động viên, thúc giục. Việc đánh giá tính có thực của ý chí ly hôn hoàn toàn tùy thuộc vào năng lực và lương tâm của thẩm phán.

- Ý chí nghiêm túc. Mong muốn ly hôn phải là kết quả của một quá trình cân nhắc thận trọng. Nhiều cặp vợ chồng trẻ vội vàng dắt nhau ra Toà chỉ sau một vụ cãi vã về những chuyện rất lặt vặt trong cuộc sống hàng ngày. Trên thực tế, việc đánh giá tính nghiêm túc của ý chí thường được thực hiện trong giai đoạn hoà giải chứ không phải trong giai đoạn xét xử. Song, vẫn có trường hợp hoà giải bất thành, dù yêu cầu ly hôn chưa được các bên cân nhắc.

- Ý chí chắc chắn. Mong muốn ly hôn của mỗi người trong các đương sự phải được duy trì trong suốt thời gian diễn ra vụ án ly hôn. Không thể có chuyện hôm trước xin ly hôn, hôm sau lại rút yêu cầu, hôm sau nữa lại muốn ly hôn. Một khi ý chí ly hôn không được duy trì liên tục, thẩm phán có thể bác đơn mà không phải bận tâm đến nội dung của vụ ly hôn. Cũng không có khó khăn đặc biệt, nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai đều hướng đến việc ly hôn với thái độ ngập ngừng: ngay nếu như hoà giải không thành, thẩm phán cũng có quyền nói rằng mọi chuyện chưa đếïn nỗi không thể cứu chữa và bác đơn xin ly hôn với lý do đó: ý chí có thể thực, có thể nghiêm túc, nhưng chưa chắc chắn.

Thoả thuận sau khi ly hôn. Trong trường hợp thuận tình ly hôn, ý chí thực, nghiêm túc và chắc chắn chưa đủ để xây dựng căn cứ ly hôn. Muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân một cách hợp pháp, các bên còn phải thoả thuận được về các hậu quả của việc ly hôn, đặc biệt là về phần liên quan đến việc phân chia tài sản chung và về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Tuy nhiên, theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 90, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, thì Toà án công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận, nhưng không bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con, thì Toà án quyết định.

b. Thủ tục ra quyết định

Nghị quyết số 02 đã dẫn phân biệt thủ tục ra quyết định tùy theo việc ly hôn có hay không có đủ những điều kiện được ghi nhận tại điểm 9, a.

Trường hợp có đủ các điều kiện ghi nhận tại điểm 9, a. Các điều kiện này bao gồm:

- Hai bên thực sự tự nguyện ly hôn;

- Hai bên đã thoả thuận với nhau về việc chia hay không chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con;

- Sự thoả thuận của hai bên về tài sản và con trong từng trường hợp cụ thể này là bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con.

Một khi có đủ các điều kiện nêu trên, thì thẩm phán ra ngay quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không cần đưa vụ án ra xét xử. Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay và không thể bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.

Các trường hợp khác. Nếu không có một trong các điều kiện nêu trên, thì Toà án đưa vụ án ra xử. Quyết định của Toà án trong trường hợp này, dù thuận lợi hay không thuận lợi đối với ý chí của các bên, có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.

c. Nội dung của quyết định

Trường hợp có thoả thuận. Một khi thoả thuận giữa các bên thoả mãn các điều kiện do luật đòi hỏi, nhất là bảo đảm được quyền lợi chính đáng của vợ và con, thì, như đã biết, thẩm phán công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thoả thuận giữa các bên. Có thể nhận thấy rằng việc công nhận thuận tình ly hôn và việc công nhận sự thoả thuận về tài sản và con là hai việc không tách rời nhau; bởi vậy thẩm phán không thể chỉ công nhận việc thuận tình ly hôn mà không công nhận thoả thuận của vợ chồng về tài sản và con, cũng không thể chỉ công nhận thoả thuận của vợ chồng về tài sản và con mà không công nhận sự thuận tình ly hôn.

d. Khả năng thoái hoá thành việc ly hôn theo yêu cầu của một bên

Sự cố ly hôn. Có trường hợp cả vợ và chồng cùng đứng đơn xin ly hôn, nhưng sau một thời gian, một trong hai người rút lại ý định xin ly hôn hoặc vắng mặt hoặc rơi vào tình trạng không nhận thức được hành vi của mình. Trong khung cảnh của luật viết hiện hành, dường như thẩm phán phải tiếp tục quá trình tố tụng bằng cách chuyển vụ án thuận tình ly hôn thành vụ án ly hôn theo yêu cầu của một bên: không có quy định nào nói rằng đơn xin thuận tình ly hôn có thể bị vô hiệu hoá do có một bên rút lại ý định ly hôn hoặc đã nộp đơn với đầy đủ ý thức về hành vi của mình nhưng sau đó lại rơi vào tình trạng không còn có thể bày tỏ ý chí. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử có vẻ không nhiệt tình lắm trong việc tiếp nhận giải pháp này: nếu một người xin rút đơn, thì thẩm phán thường ghi nhận rằng không có thuận tình ly hôn và xếp hồ sơ; nếu người còn lại vẫn kiên quyết xin ly hôn, thì sau một thời gian, người này phải nộp lại đơn để Toà án xử lại vụ án theo các quy định áp dụng đối với trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên.

Ly hôn theo yêu cầu của một bên

Phát triển thành thuận tình ly hôn. Ở bất cứ giai đoạn nào của tố tụng dân sự, việc ly hôn theo yêu cầu của một bên đều có thể phát triển thành việc ly hôn theo yêu cầu của cả hai bên. Nếu khả năng phát triển ấy xảy ra, thì bản án ly hôn phải dựa vào các căn cứ như đã được phân tích ở trên, tức là phải có ý chí thực, chắc chắn và nghiêm túc cũng như có lẽ phải có thoả thuận hợp lý giữa các bên về việc giải quyết các vấn đề sau ly hôn, đặc biệt là vấn đề tài sản và con cái.

Không phát triển thành thuận tình ly hôn. Trái lại, sẽ có nhiều khó khăn một khi một bên kiên quyết xin ly hôn trong khi bên kia lại kiên quyết phản đối hoặc tỏ ra do dự, cam chịu hoặc thậm chí giữ im lặng. Tất nhiên, người kiên quyết ly hôn là người nộp đơn xin ly hôn. Chính người này phải chứng minh rằng cuộc sống chung đã đổ vỡ; người còn lại có quyền bác bỏ sự chứng minh đó, nhưng cũng có quyền im lặng hoặc tỏ thái độ thụ động. Có thể tóm tắt một số suy nghĩ về nội dung của quyết định cần lựa chọn trong trường hợp các bên đều nhận thức được đầy đủ về hành vi của mình, đang chung sống trong một nhà, mà một bên lại xin ly hôn:

- Nếu người kiên quyết không muốn ly hôn chứng minh được rằng việc ly hôn có thể ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng đến cuộc sống của mỗi người và nhất là của con chung, thì không thể nói rằng “đời sống chung không thể kéo dài”; dù hoà giải không xong, thẩm phán cũng có thể bác đơn xin ly hôn.

- Nếu người kiên quyết không muốn ly hôn chứng minh được rằng người kiên quyết xin ly hôn chỉ viện dẫn những sự việc sai trái mà trước đây người này đã bỏ qua với thái độ rộng lượng và người kiên quyết không muốn ly hôn đã không lặp lại các việc làm tương tự, thì thẩm phán có thể coi việc bác đơn xin ly hôn như là một biện pháp nhắc nhở người đứng đơn về sự cần thiết của việc loại trừ tính cố chấp. Muốn xin ly hôn, người đứng đơn phải viện dẫn các sự việc khác (sau một năm kể từ ngày quyết định bác đơn có hiệu lực).

- Nếu người kiên quyết không muốn ly hôn chứng minh được rằng sự vi phạm nghĩa vụ của mình có nguồn gốc từ sự kích động của người còn lại ( Ví dụ. Người vợ thường xuyên nặng lời với người chồng, chỉ vì người sau này bê tha rượu chè, cờ bạc.), thì thẩm phán có thể bác đơn xin ly hôn, sau khi đã cho các bên những lời khuyên về cung cách cư xử, trừ trường hợp sự vi phạm nghĩa vụ tỏ ra nghiêm trọng và đã dẫn đến sự đổ vỡ thực sự cuộc sống chung.

- Nếu người kiên quyết xin ly hôn chứng minh được rằng người kiên quyết không muốn ly hôn hoặc không tỏ thái độ đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng một cách có hệ thống và chỉ coi hôn nhân như một nguồn lợi ( Ví dụ. Vợ chồng không có con chung; người vợ quan hệ xác thịt bừa bãi và có hành vi phá tán tài sản chung của gia đình cũng như tài sản riêng của chồng.), thì thẩm phán có thể quyết định cho ly hôn. Việc thanh toán và phân chia tài sản chung có thể do hai bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được, thì một trong hai bên hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Toà án giải quyết.

- Nếu người kiên quyết xin ly hôn chứng minh được rằng người kia vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng, nhưng người kia lại tỏ ra ăn năn, hối cải và kiên quyết không muốn ly hôn, thì thẩm phán có thể bác đơn xin ly hôn, nếu đã động viên người xin ly hôn rút đơn mà không thành công.

- Nếu người kiên quyết xin ly hôn chỉ mong muốn được giải thoát còn người kia do dự hoặc cam chịu, thì, một khi xét thấy việc duy trì quan hệ hôn nhân là vô ích, thẩm phán quyết định cho ly hôn nhưng sẽ quan tâm đến việc xây dựng những thoả thuận sau ly hôn như thế nào để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người còn lại (và của con, nếu có) (“Quan tâm”, trong điều kiện các bên có xúc tiến việc thoả thuận về tài sản và con (dù việc ly hôn chỉ được một người yêu cầu)).

- Nếu người kiên quyết xin ly hôn chỉ muốn được giải thoát, còn người kia giữ im lặng, thậm chí không màng đến chuyện ra trước Toà án, dù được triệu tập hợp lệ, thì thẩm phán cũng thường xử cho ly hôn và giải quyết vấn đề con cái, nếu có, nhưng lại không giải quyết vấn đề tài sản.