Căn cứ vào các tài liệu:
- Nghị định số 166/1999/ NĐ-CP của chính phủ về chế độ tài chính của các TCTD .
- Thông tư số 92/2000/TT- Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 166 của chính phủ.
- Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN của thống đốc NHNN về ban hành quy định phương pháp tính và hạch toán thu, chi trả lãi của NHNN và TCTD.
Cơ chế tài chính của Ngân hàng thương mại được khái quát lại như sau:
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ và cam kết của mình theo quy định của pháp luật .
Xuất phát từ cơ chế điều hoà vốn, cấc Ngân hàng thương mại thực hiện hạch toán toàn hệ thống, trong đó cấp chủ quản chịu trách nhiệm về hoạt động tài chính, kết quả kinh doanh của toàn hệ thống; các đơn vị thành viên là đơn vị hạch toán nội bộ, chịu trách nhiệm về hoạt động tài chính và kết quả kinh doanh của đơn vị mình.
Hoạt động tài chính của Ngân hàng thương mại theo nguyên tắc lấy thu bù chi. Nếu kinh doanh có lãi thì sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, số còn lại được trích lập các quỹ theo quy định; ngược lại bị lỗ thì Ngân hàng thương mại chịu trách nhiệm về khoản lỗ trên cơ sở điều hoà kết quả kinh doanh của toàn hệ thống .
Doanh thu của Ngân hàng thương mại được hình thành từ thu lãi cho vay, đầu tư, từ kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và từ các dịch vụ thanh toán, ngân quỹ, trong đó chủ yếu là thu lãi từ hoạt động cho vay, đầu tư. Để tăng doanh thu cho ngân hàng , một mặt phải nâng cao chất lượng cho vay, đầu tư; mặt khác phải mở rộng hoạt động dịch vụ cho ngân hàng theo xu hướng chung của các ngân hàng hiện đại trên thế giới.
Chi phí của Ngân hàng thương mại bao gồm các khoản chi trả lãi tiền gửi cảu khách hàng; hci trả lãi tièn vay; chi kinh doanh ngoại tệ vàng bạc đá quý, chi quản lý. Trong đó chi trả lãi tiền gửi của khách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất. Để hạ thấp chi phí nhằm đảm boả kinh doanh có lãi phải có biện pháp sát hợp với từng loại chi phí.
Ngân hàng thương mại áp dụng nguyên tắc dồn tích để hạch toán dự thu và dự trả lãi. Thực hiện phương pháp dồn tích để đảm bảo các báo cáo tài chính sẽ phản ánh các khoản thu nhập đúng đắn của Ngân hàng thương mại trong một thời kỳ kế toán xác định ằng việc thích ứng các chi phí với thu nhập được tạo ra.
Niên độ tài chính của Ngân hàng thương mại được bắt đầu từ ngày 01/01 đến hết ngày 31/12. Mọi khoản doanh thu, chi phí phải được hạch toán trong hết năm tài chính. Cuối năm (31/12), Ngân hàng thương mại xác định kết quả kinh doanh một lần. Tuy nhiên để có căn cứ tạm trích và trả lương cho cán bộ, công nhân viên, tạm trích các quỹ thì hàng tháng Ngân hàng thương mại tạm tính kết quả hoạt động kinh doanh theo kế hoạch lợi nhuận quý. Cuối năm sau khi xác định kết quả kinh doanh chính thức sẽ thanh toán phần tạm chi lương và tạm trích các quỹ.
Ngân hàng thương mại phải thưc hiện chế độ kế toán theo quy định của pháp luật, ghi chép đầy đủ chứng từ ban đầu, cập nhật sổ sách kế toán và phản náh đầy đủ kịp thời, trung thực chính xác cá hoạt động kinh tế, tài chính. Thực hiện chế độ quản lý tài chính của nhà nước và của ngân hàng. Xây dựng kế hoạch tài chính, lập dự toán và quyết toán các khoản chi phí theo quy định.
Hàng năm, hoạt động tài chính của Ngân hàng thương mại phải được kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập. Báo cáo tài chính sau khi được kiểm toán độc lập Ngân hàng thương mại phải công khai cho ba đối tượng: Nhà nước (gồm các cơ quan quản lý tài chính, thống kê, thuế và Ngân hàng thương mại), trong nội bộ Ngân hàng thương mại (gồm tổ chức Đảng, đoàn thể nguời lao động và các cổ đông), bên ngoài Ngân hàng thương mại (gồm các nhà đầu tư, khách hàng). Nội dung công khai cho từng đối tượng theo quy định của chế độ tài chính đối với Ngân hàng thương mại.
Các khoản thu nhập - chi phí và kết quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Các khoản thu nhập của ngân hàng thương mại
Các khoản thu nhập của Ngân hàng thương mại được tạo ra từ nghiệp vụ sử dụng vốn của ngân hàng. Các Ngân hàng thương mại hiện đại ngày nay kinh doanh đa năng nên nội dung các khoản thu cũng rất phong phú.
-Thu từ hoạt động nghiệp vụ bao gồm: thu lãi cho vay, hùn vốn liên doanh liên kết, thu lãi tiền gửi, thu từ nghiệp vụ cho thuê tài chính, htu từ dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, thu từ nghiệp vụ chứng khoán và bảo lãnh, thu khác liên quan đến hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng.
-Thu từ hoạt động khác của Ngân hàng thương mại: htu góp vốn , mau cổ phần, htu từ việc tham gia thị trường tiền tệ, thu từ hoạt động kinh doanh vàng bạc và ngoại tệ, thu từ nghiệp vụ uỷ thác, đại lý, thu từ dịch vụ bảo hiểm và tư vấn, htu từ nghiệp vụ mua bán nợ giữa các TCTD, thu từ nghiệp vụ cho thuê tài sản và nghiệp vụ khác.
-Thu hoàn nhập các khoản dự phòng đã trích trong chi phí, htu từ các khoản vốn bằng dự phòng rủi ro, thu từ nhượng bán và thanh lý TSCĐ và thu về chênh lệch tỷ giá theo quy định của pháp luật.
Trong đó khoản thu lãi từ việc cho vay, hùn vốn, liên kết là khoản thu cơ bản của Ngân hàng thương mại. Nguồn thu này chiếm tỷ lớn trong tổng thu nhập của Ngân hàng thương mại và nó phụ thuộc vào khung lãi suất do Ngân hàng thương mại quy định cũng như phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế, các ngân hàng tham gia hùn vốn, góp vốn. Các ngân hàng Việt Nam thu từ nghiệp vụ này thường chiếm hơn 70% tổng thu từ nghiệp vụ ngân hàng, các Ngân hàng thương mại khác nhau tuỳ thuộc vào khả năng của mỗi ngân hàng.
Khoản thu từ lãi tiền gửi của Ngân hàng thương mại gửi tại NHNN và các TCTD khác trên cơ sở số dư tài khoản tiền gửi thanh toán và các tài khoản tiền gửi có kỳ hạn thường là nhỏ. Bởi vì mục đích của các tài khoản này là để tham gia vào các hoạt động thanh toán, dự trữ bắt buộc theo quy định của NHNN và bảo toàn vốn nên Ngân hàng thương mại được hưởng lãi suất rất thấp.
Thu từ nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ như lãi từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ, phí nghiệp vụ thanh toán quốc tế… Về nguyên tắc các khoản thu về kinh doanh ngoại tệ thu bằng ngoại tệ. Các ngân hàng phát triển nghiệp vụ này là hết sức cần thiết do không những tăng thu nhập mà còn tạo điều kiện cho nghệp vụ thanh toán quốc tế được thuận lợi nhanh chóng, góp phần mở rộng quan hệ thương mại quốc tế.
Thu từ các hoạt động dịch vụ ( thanh toán, chuyển tiền, tư vấn, chứng khoán,…) hiện nay ở nước ta còn rất nhỏ song với ngân hàng hiện đai trên thế giới thì khoản thu này tương đối lớn, chiếm 40 - 45 %. Vì vậy, các ngân hàng Việt Nam cần ra sức phấn đấu tăng nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ.
*Tài khoản phản ánh doanh thu của Ngân hàng thương mại :
Tài khoản phản ánh doanh thu của Ngân hàng thương mại được phản ánh và bố trí ở loại 7 trong hệ thống tài khoản của TCTD
- Thu về hoạt động tín dụng : phản ánh ở tài khoản cấp 1 số 70
- Thu về dịch vụ thanh toán và ngân quỹ : phản náh ở tài khoản cấp 1 số 71
- Thu từ các hoạt động khác : phản ánh ở tìa khoản cấp 1 số 72
- Các khoản thu nhập bất thường: phản ánh ở tài khoản cấp 1 số 79
Kết cấu của tài khoản thu nhập :
Bên có ghi:-Các khoản thu về hoạt động kinh doanh trong năm
Bên nợ ghi:-Số tiền thoái thu các khoản thu trong năm.
- chuyển số dư có cuối năm vào tài khoản lợi nhuận trong năm nay khi quyết toán
Số dư có: - Phản ánh số thực thu trong năm
Các khoản chi phí của Ngân hàng thương mại
Đối ứng với các khoản thu nhập, Ngân hàng thương mại cũng như các doanh nghiệp khác cần phải bỏ ra các chi phí để duy trì các hoạt động của mình. Các khoản chi phí của Ngân hàng thương mại gồm có :
Chi phí về huy động vốn như : chi trả lãi tiền gửi, chi trả lãi tiền vay, chi trả lãi việc phát hành giấy tờ có giá và các chi phí khác liên quan đến huy động vốn.
Trong đó việc trả lãi tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí của ngân hàng thương mại, nhưng đây là khoản chi không thể hạn chế hay tiết kiệm vì đây là chi cho nghiệp vụ hình thành nguồn vốn của Ngân hàng thương mại. Mức chi phụ thuộc vào số dư tiền gửi của khách hàng và lãi suất phải trả theo quy định của nhà nước. Chi trả lãi tiền vay phụ thuộc vào số dư tài khoản tiền vay của ngân hàng, thời hạn vay và lãi suất vay được thoả htuận giữa hai bên. Lãi suất tiền vay thường tương đối cao nên nếu sử dụng nhiều vốn vay để kinh doanh thì ngân hàng sẽ thu được ít lợi nhuận hơn, cho nên các ngân hàng thường hạn chế việc đi vay. Chi trả lãi phát hành kỳ phiếu, trái phiếu phụ htuộc vào số vốn ngân hàng huy động được bằng cách phát hành kỳ phiếu, trái phiếu hay chứng chỉ tiền gửi. Chi phí naỳ cao hơn chi phí tiền gửi tuy nhiên nó chỉ mang tính chất thời điểm.
- Chi phí về dịch vụ thanh toán và ngân quỹ gồm: chi về dịch vụ thanh toán, chi cước phí bưu điện và mạng viễn thông, chi phí về ngân quỹ và các khoản chi khác về ngân quỹ và hoạt động thanh toán.
-Chi về hoạt động khác như; chi về tham gia thị truờng tiền tệ, chi về kinh doanh mua bán ngoại bảng. Các khoản chi này chiếm một tỷ lệ không nhiều trong tổng chi phí của Ngân hàng thương mại .
- Ngoài ra các Ngân hàng thương mại còn phải có nghĩa vụ đối với nhà nước nên có các khoản chi về thuế lợi tức, thuế môn bài, thuế trước bạ và các khoản nộp phí, lệ phí .
- Chi phí cho nhân viên bao gồm; chi lương và phụ cấp lương; chi trang phục giao dịch, phương tiện và bảo hộ lao động ; chi bảo hiểm xã hội ; chi phí công đoàn; chi trợ cấp khó khăn; trợ cấp thôi việc theo quy định của nhà nước; chi cho công tác xã hội,…Các ngân hàng thực hiện việc chi cho cán bộ công nhân viên chức theo hệ số lương cơ bản và theo kết quả kinh doanh trong kỳ.
- Chi phí hoạt động quản lý và công cụ : có các khoản chi vật liệu và giấy tờ in; chi công tác phí theo quy định của nhà nước; chi cho đào tạo và huấn luyện nghiệp vụ; chi về ứng dụng khoa học và công nghệ ; sáng kiến cải tiến; chi bưu phí và điện thoại; chi xuất bản taì liệu tuyên truyền quảng cáo ; chi hoạt động đoàn thể….Các khoản chi này phụ htuộc vào quy mô ngân hàng và theo chế độ quản lý chi của chính ngân hàng, của Bộ tài chính.
- Chi về tài sản như chi khấu hao, bảo dưỡng tài sản, xây dựng nhỏ, mua sắm công cụ lao động, bảo hiểm tài sản, thuê tài sản…
- Chi phí dự phòng bảo toàn và bảo hiểm tiền gửi của khách hàng gồm có : chi dự phòng giảm giá chứng khoán, dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá vàng bạc- ngoại tệ, chi nộp bảo hiểm tiền gửi.
Có thể thấy rằng chi phí của ngân hàng thương mại rất đa dạng, nhiệm vụ của kế toán ngân hàng là phải xác định các khoản chi, hạch toán chính xác, kip thời, đầy đủ tránh gây tổn thất về vốn. Đây là cơ sở đẻ giúp các nhà quản lý ngân hàng dưa ra các quyết định đúng đắn trong kinh doanh và có biện pháp tiết kiệm chi phái có hiệu quả.
Tài khoản phản ánh chi phí của ngân hàng thương mai.
Tài khoản phản ánh chi phí của ngân hàng thương mại được bố trí ở loại 8 trong hệ thống tài khoản của các TCTD.
- Chi về hoạt động huy động vốn : Tài khoản cấp I số 80
- Chi về dịch vụ ngân quỹ : Tài khoản cấp I số 81
- Chi nộp thuế và các khoản phí, lệ phí : Tài khoản cấp I số 83
- Chi cho nhân viên : Tài khoản cấp I số 84
- Chi cho hoạt động quản lý và công vụ : Tài khoản cấp I số 85
Kết cấu của tài khoản chi phí
Bên nợ ghi : - Các khoản chi về hoạt động trong năm
Bên có ghi : - Số tiền thu được để giảm chi trong năm.
- Chuyển số dư nợ cuối năm vào tài khoản lợi nhuận năm nay khi quyết toán
Số dư nợ : Phản ánh số thực chi trong năm.
Kết quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Kết quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại hay lợi nhuận là khoản chênh lệch được xác định giữa tổng doanh thu phải trừ đi tổng các khoản chi phí phải trả hợp lý, hợp lệ, bao gồm lợi nhuận trong hoạt động nghiệp vụ và lợi nhuận trong hoạt động khác. Việc xác định kết quả kinh doanh được thực hiện vào cuối ngày 31/12 khi quyết toán niên độ.
Tài khoản phản ánh kết quả kinh doanh được bố trí ở loại 6 của hêj thống tài khoản các TCTD, cụ thể la tài khoản cấp I số 69 “ Lợi nhuận chưa phân phối”. Tài khoản 69 có 2 tài khoản cầp II.
Tài khoản 691 “ Lợi nhuận năm nay” dùng để phản ánh số lãi. lỗ hàng năm của Ngân hàng thương mại.
Bên có ghi : - Số dư cuối năm của các tài khoản thu nhập chuyển sang khi quyết toán.
Bên nợ ghi : - Số dư cuôi năm của các tài khoản chi phí chuyển sang khi quyết toán.
Số dư có : Phản ánh số thực lãi trong năm.
Số dư nợ : Phản ánh số thực lỗ trong năm.
Đầu năm sau số dư của các tài khoản này được chuyển thành số dư của tài khoản 692 “ Lợi nhuận năm trước”.
Tài khoản 692 “ Lợi nhuận năm trước” dùng để phản ánh số lãi, lỗ năm trước của Ngân hàng thương mại và việc thanh toán số lãi lỗ đó.
Bên có ghi : - Chuyển số lỗ năm trước vào các tài khoản thich hợp để thanh toán.
Bên nợ ghi : - Chuyển số lãi năm trước vào các tài khoản thich hợp để thanh toán.
Số dư có : Phản ánh số lãi năm trước chưa thanh toán.
Số dư nợ : Phản ánh số lỗ năm trước chưa thanh toán.
Trong kế toán doanh thu – chi phí và kết quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại ngoài các tài khoản trên còn sử dụng một số tài khoản liên quan :
- Tài khoản tiền lãi cộng dồn dự thu.
- Tài khoản dự phòng giảm giá chứng khoán.
- Tài khoản dự phòng phải thu khó đòi.
- Tài khoản thuế giá trị gia tăng đầu vào.
- Tài khoản chi phí chờ phân bổ,
- V.v…..