Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài

Khái niệm doanh nghiệp liên doanh

Hiện nay, có khá nhiều cách tiếp cận khác nhau đến thuật ngữ doanh nghiệp liên doanh. Sau đây là một số cách tiếp cận cơ bản:

Quan điểm 1: Theo luật kinh doanh của Hoa Kì định nghĩa như sau: ”Liên doanh là một quan hệ bạn hàng trong đó hai hoặc nhiều bên chủ thể cùng đóng góp lao động và tài sản để thực hiện mục tiêu đặt ra và cùng chia sẻ các khoản lợi nhuận và rủi ro ngang nhau hoặc do các bên thoả thuận. ” Tuy nhiên, khái niệm này chưa chỉ ra tính chất pháp lí và tính chất quốc tế của doanh nghiệp liên doanh.

Quan điểm 2: Liên doanh là một tổ chức kinh doanh hợp nhất hoặc liên kết, được thành lập ở nước sở tại và hoạt động theo luật pháp của nước sở tại, trong đó các bên tham gia có quốc tịch khác nhau. Tuy nhiên, quan điểm này chưa chỉ ra bản chất kinh doanh của doanh nghiệp liên doanh.

Quan điểm 3: Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam định nghĩa như sau:

“Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh, hoặc hiệp định kí kết của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài, hoặc là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh. ”

Khái niệm này đã nhấn mạnh khía cạnh pháp lí của liên doanh và các trường hợp thành lập liên doanh nước ngoài mà chưa chỉ rõ bản chất kinh doanh của các liên doanh.

Từ các phân tích trên đây, đứng trên giác dộ chung có thể định nghĩa như sau:

Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài (gọi tắt là doanh nghiệp liên doanh) là một chức kinh doanh quốc tế của các bên tham gia có quốc tịch khác nhau trên cơ sở cùng góp vốn cùng khinh doanh cùng quản lí và cùng phân phối kết quả kinh doanh nhằm thực hiện các cam kết trong hợp đồng liên doanh và diều lệ doanh nghiệp liên doanh phù hợp với khuôn khổ pháp luật của nước sở tại.

Nói cách khác: Doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân của nước sở tại, một tổ chức kinh doanh trong đó các bên đối tác có quốc tịch khác nhau cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng quản lí và cùng chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp tương ứng với phần vốn góp của bên mình vào doanh nghiệp, nhằm thực hiện các cam kết trong hợp đồng liên doanh và điều lệ doanh nghiệp liên doanh phù hợp với khuôn khổ pháp luật của nước sở tại.

Đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp liên doanh

Đặc trưng về pháp lí:

Doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân của nước sở tại do đó doanh nghiệp này phải hoạt động theo luật pháp của nước sở tại. ở những nước còn có sự khác nhau về hệ thống pháp lí giữa đầu tư trong nước với đầu tư nước ngoài thì các doanh nghiệp liên doanh này chịu sự chi phối của hệ thống pháp luật qui định đối với hoạt động FDI.

Hình thức pháp lí của doanh nghiệp liên doanh là do các bên thoả thuận phù hợp với các qui định của pháp luật nước sở tại. Ví dụ ở Việt Nam hiện nay mới chỉ cho phép các doanh nghiệp liên doanh hoạt động dưới các hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Sắp tới đây, có thể cho phép các công ty cổ phần có vốn FDI hoạt động. Còn ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì các doanh gnhiệp liên doanh được hoạt động dưới nhiều hình thức pháp lí khác nhau như các công ty trách nhiệm vô hạn, các hiệp hội góp vốn…

Quyền quản lí của doanh nghiệp phụ thuộc vào tỉ lệ góp vốn: Điều này có

nghĩa là, về mặt pháp lí nếu bên nào có tỉ lệ vốn góp cao thì bên đó sẽ giữ vị trí chủ chốt và quan trọng trong bộ máy quản lí.

Mặt khác, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên được ghi trong hợp dồng liên doanh và điều lệ của doanh nghiệp liên doanh.

Đặc trưng về kinh tế- tổ chức

Hội đồng quản trị của doanh nghiệp là mô hình tổ chức chung cho mọi doanh nghiệp liên doanh không kể qui mô nào, lĩnh vực nào, nghành nghề nào. Đây là cơ quan lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp liên doanh.

Về kinh tế: luôn luôn có sự gặp gỡ và phân chia lợi ích giữa các bên trong liên doanh và cả các bên đứng đằng sau liên doanh. Đây là một vấn đề phức tạp vì lợi ích kinh tế là vần đề trung tâm mà các bên dối tác trong liên doanh đều quan tâm do đó khi xem xét đến lợi ích của các bên mình thì cũng phải luôn nhớ và xem xét đến lợi ích của các đối tác. Đây là cơ sở để duy trì tính đoàn kết và nhất trí trong các liên doanh. Đây là điều kiện quan trọng dể duy trì các liên doanh, việc xung đột lợi ích của các bên trong liên doanh phải được giải quyết thoả đáng, hài hoà.

Để đạt được mục tiêu của mình, các bên trong liên doanh vừa phải hợp tác chặt chẽ với nhau để cùng kinh doanh, cùng làm cho liên doanh có lãi nhiều hơn thì thì lợi ích của các bên cũng tăng theo. Trong quan hệ với các đối thủ cạnh tranh, các bên trong liên doanh phải luôn kề vai sát cánh, đoàn kết chặt chẽ dể chiến thắng của đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, trong quan hệ nội bộ, lợi ích của các bên đối tác đối tác lại khác nhau, mặc dù các lợi ích này có quan hệ rất chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau.

Đặc trưng về kinh doanh

Trong kinh doanh, các bên đối tác cùng góp vốn, cùng sở hữu nên thường xuyên phải bàn bạc cùng nhau để quyết định mọi vấn đề cần thiết và nảy sinh trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp liên doanh. Các quyết định kinh doanh trong các doanh nghiệp liên doanh phải dựa vào các qui định pháp lí của nước sở tại về việc vận dụng nguyên tắc nhất trí hay quá bán. Hiện nay, ở Việt Nam hệ thống pháp lí qui định có hai vấn đề quan trọng nhất của doanh gnhiệp phải theo nguyên tắc nhất trí, còn lại các vấn đề khác thì phải tuân theo các nguyên tắc quá bán số thành viên có mặt tại cuộc họp hội đồng quản trị.

Môi trường kinh doanh ở nước sở tại thường xuyên tác động và chi phối rất lớn đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp liên doanh. Môi trường kinh doanh quốc gia sở tại, nơi doanh nghiệp (đóng trụ sở chính) tiến hành các hoạt động kinh doanh bao gồm các yếu tố văn hoá trong kinh doanh, chính trị và luật pháp trong kinh doanh, nền kinh tế nơi doanh nghiệp đang hoạt động, mức độ cạnh tranh trong nghành (lĩnh vực) mà doanh nghiệp đang tiến hành các hoạt động kinh doanh.

Đặc trưng về xã hội

Trong các doanh nghiệp liên doanh luôn có sự gặp gỡ và cọ sát giữa các nền văn hoá khác nhau. Sự cọ sát giữa các nền văn hoá và xã hội khác nhau được thể hiện qua ngôn ngữ, triết lý kinh doanh, lối sống tập quán, ý thức luật pháp, tác phong của các bên đối tác thường là không giống nhau do họ bị chi phối bởi nền văn hoá xuất thân khác nhau. Quá trình cọ sát này thường đưa đến các mâu thuẫn giữa các bên đối tác, nếu các Bên không biết để thông cảm cho nhau sẽ gây bất bình, thậm chí căng thẳng ảnh hưởng đến quá trình hợp tác kinh doanh của các Bên trong doanh nghiệp liên doanh. Mặt khác, trong qua trình kinh doanh quan hệ giữa doanh nghiệp liên doanh với nước sở tại cũng luôn gặp phải sự cọ sát của các yếu tố văn hoá khác nhau. Nếu không biết cách giải quyết cũng sẽ gây ra những bất lợi trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, việc tìm hiểu các vấn đề văn hoá của nước đối tác đã trở thành một hoạt động cần thiết tạo điều kiện thuật lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp liên doanh ở bất kỳ nước nào trên thế giới.

Tóm lại , trên đây là 4 đặc trưng của doanh nghiệp liên doanh. Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng loại doanh nghiệp liên doanh mà thể hiện cụ thể của các đặc trưng này cũng khác nhau.

Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài

Nâng cao hiệu quả kinh doanh là cơ sở để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp được xác định bởi sự có mặt của doanh nghiệp trên thị trường. Mục tiêu của bất kì doanh nghiệp nào cũng là tồn tại và phát triển bền vững. Muốn vậy, điều kiện bắt buộc cho mỗi doanh nghiệp là phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình.

Như trên đã nói, hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh. Do vậy, trong điều kiện vốn và các yếu tố đầu vào khác chỉ thay đổi trong khuôn khổ nhất định thì để tăng lợi nhuận bắt buộc các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh doanh, tức là phải nâng cao trình độ khai thác các nguồn lực của mình.

Mặt khác, sự tồn tại của doanh nghiệp còn được xác định bởi sự tạo ra hàng hoá, của cải vật chất và các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội. Muốn vậy, mỗi doanh nghiệp đều phải đảm bảo thu nhập bù đắp chi phí và có lãi mới đáp ứng được nhu cầu tái sản xuất mở rộng trong nền kinh tế.

Như vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh một cách liên tục trong mọi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh là một tất yếu khách quan không thể phủ nhận được.

Nâng cao hiệu quả kinh doanh là phương hướng cơ bản tạo ưu thế trong cạnh tranh và mở rộng thị trường.

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra hết sức gay gắt. Để tồn tại đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải tạo cho mình ưu thế trong cạnh tranh. ưu thế đó có thể là chất lượng sản phẩm, giá bán, cơ cấu hoặc mẫu mã sản phẩm . . . Trong giới hạn về khả năng các nguồn lực, doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện điều này bằng cách tăng khả năng khai thác các nguồn lực đó trong quá trình sản xuất kinh doanh.

VD: Doanh nghiệp có thể cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao trình độ sử dụng máy móc thiết bị để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao và giá cả phù hợp nhằm thu hút được khách hàng.

Việc giành quyền chủ động trong cạnh tranh sẽ giúp cho doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình.

Nâng cao hiệu quả kinh doanh và mở rộng thị trường tiêu thụ có tác động qua lại với nhau. Nâng cao hiệu quả kinh doanh giúp các doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường, đồng thời mở rộng thị trường giúp cho doanh nghiệp có thể nâng cao sản lượng tiêu thụ, tăng hệ số các yếu tố sản xuất (tức là nâng cao hiệu quả kinh doanh).

Nâng cao hiệu quả kinh doanh để mở rộng sản xuất.

Mở rộng sản xuất luôn là một yêu cầu đặt ra cho mỗi doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ thực hiện được yêu cầu này khi đảm bảo được các điều kiện như: sản xuất phải có tích luỹ, phải có thị trường đầu ra cho việc mở rộng, tránh mở rộng một cách tràn lan gây ứ đọng vốn, giảm hiệu quả kinh doanh. Đáp ứng đòi hỏi đó, mỗi doanh nghiệp cần phải thực hiện một cách đồng bộ các nhiệm vụ như: Nâng cao chất lượng lao động quản lí và tay nghề cho công nhân nhằm tăng thêm hiệu quả sử dụng lao động, tích cực cải tiến máy móc thiết bị, đẩy nhanh việc ứng dụng tiến bộ kĩ thuật và công nghệ mới vào sản xuất để tạo ra sự phát triển theo chiều sâu và giảm chi phí sản xuất sản phẩm, xúc tiến công tác bán hàng, mở rộng thị trường và mạng lưới tiêu thụ nhằm rút ngắn chu kì kinh doanh, nâng cao tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh.

Nâng cao hiệu quả kinh doanh là cơ sở buộc các đối tác trong liên doanh phải có sự phối hợp nhịp nhàng.

Xuất phát từ tính chất đặc thù của liên doanh là luôn luôn có sự gặp gỡ và

phân chia lợi ích giữa các bên trong liên doanh, doanh nghiệp liên doanh luôn phải giải quyết việc phân phối lợi ích các bên bên trong doanh nghiệp liên doanh. Đây là vấn đề rất phức tạp và là vấn đề trung tâm mà các bên trong đối tác đều quan tâm. Vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nó đồng nghĩa với việc nâng cao lợi ích, lợi nhuận của các bên trong liên doanh. Nhưng đề tăng được lợi ích hai bên không còn cách nào khác là phải kề vai sát cánh, có một tinh thần đoàn kết, gắn bó với nhau vì một mục tiêu chung và phải quên đi các mâu thuẫn, xung đột truớc mắt hoặc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng. Đồng thời đối với bên Việt Nam, nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng là đồng nghĩa với việc phải nâng cao trình độ, tăng cường học hỏi các kinh nghiệm của đối tác về thị trường, tinh hình thực tế… Có như thế, mới có thể cùng nhau tiến tới một mục đích chung.

Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại doanh nghiệp liên doanh là căn cứ, điều kiện để thu hút FDI.

Như chúng ta đã biết, vai trò của thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có ý nghĩa rất quan trọng đối với một quốc gia. Lí do không chỉ bởi FDI tạo ra nguồn vốn bổ sung cho đầu tư phát triển góp phần khai thác, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực trong nước, tạo thế và lực phát triển mới cho nền kinh tế, tạo công ăn việc làm, đem lại một nguồn thu đáng kể cho ngân sách Nhà nước, góp phần tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà nó còn tạo điều kiện cho việc phá thế bao vây cấm vận kinh tế, mở rộng quan hệ đối ngoại thuận lợi, tăng cường thế và lực cho một quốc gia khi tham gia vào các quan hệ kinh tế quốc tế đặc biệt là trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới như Việt Nam. Nhận thức được vai trò ý nghĩa đó Việt Nam đã không ngừng thay đổi các hệ thống luật pháp, ban hành các văn bản, chính sách .. nhằm góp phần tạo cho môi trường đầu tư một cách thông thoáng, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nâng cao hiệu quả kinh doanh. Có như thế mới tạo niềm tin cho các nhà đầu tư đã và đang có ý định đầu tư vào Việt Nam.

Ngày nay, mục tiêu quan trọng nhất của mỗi doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận. Các doanh nghiệp phải có lợi nhuận và đạt lợi nhuận càng cao càng tốt. Do vậy, đạt hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh luôn là một vấn đề quan tâm của mỗi doanh nghiệp và trở thành điều kiện sống còn để doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường.