Khái niệm dự án đầu tư
Khái niệm
Dự án đầu tư là tế bào cơ bản của hoạt động đầu tư. Đó là một tập hợp các biện pháp có căn cứ khoa học và cơ sở pháp lý được đề xuất về các mặt kỹ thuật, công nghệ, tổ chức sản xuất, tài chính, kinh tế xã hội để làm cơ sở cho việc quyết định bỏ vốn đầu tư với hiệu quả tài chính đem lại cho doanh nghiệp, hiệu quả kinh tế xã hội đem lại cho quốc gia-xã hội lớn nhất có thể có được.
Theo Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ, dự án đầu tư được hiểu như sau: “Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định (chỉ bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp)”.
Các góc độ của dự án đầu tư
Dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ
- Về mặt hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
- Trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra những kết quả kinh tế tài chính trong một thời gian dài.
- Trên góc độ kế hoạch hoá, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ. Dự án đầu tư là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế nói chung.
- Xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được những mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định.
Thành phần của dự án đầu tư
Một dự án đầu tư thường bao gồm 4 thành phần chính.
- Mục tiêu của dự án thể hiện ở hai mức: Mục tiêu phát triển là những lợi ích kinh tế xã hội do thực hiện dự án đem lại và mục tiêu trước mắt là các mục đích cụ thể cần đạt được của việc thực hiện dự án.
- Các kết quả: đó là những kết quả cụ thể, có định lượng được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án. Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện được các mục tiêu của dự án.
- Các hoạt động: là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự án để tạo ra các kết quả nhất định. Những nhiệm vụ hoặc hành động này cùng với một lịch biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của dự án.
- Các nguồn lực: về vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án. Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho dự án.
Một số đặc điểm của việc lập dự án đầu tư cho doanh nghiệp xây dựng
Vì đặc điểm của sản xuất xây lắp có nhiều điểm khác biệt với các ngành khác, nên việc lập dự án đầu tư cho doanh nghiệp xây dựng có những đặc điểm:
- Trong doanh nghiệp xây dựng phải lập dự án đầu tư để thực hiện hai nhóm nhiệm vụ chính: nhiệm vụ thi công xây lắp và nhiệm vụ sản xuất phụ cũng như phụ trợ để phục vụ thi công xây lắp. Ở đây, lập dự án đầu tư cho nhóm nhiệm vụ thi công xây lắp đóng vai trò chủ yếu, nhưng các quy định hiện hành về lập dự án đầu tư cho trường hợp này còn chưa phù hợp hoặc thiếu.
- Lập dự án đầu tư trong doanh nghiệp xây dựng có tính xác định thấp và rủi ro cao, vì khi lập dự án đầu tư cho khâu mua sắm tài sản cố định (chủ yếu là máy xây dựng) còn nhiều điều kiện cụ thể của sản xuất chưa biết như địa điểm xây dựng, khả năng thắng thầu sau này và vì sự phụ thuộc vào thời tiết và thời gian xây dựng kéo dài.
- Các tài sản cố định cần lập dự án đầu tư trong doanh nghiệp xây dựng gồm có bộ phận di động (chiếm phần lớn) và bộ phận cố định (chiếm phần nhỏ hơn). Do đó việc lập dự án đầu tư cho bộ phận di động (máy xây dựng) giữ vị trí chủ yếu.
- Việc lập dự án đầu tư trong doanh nghiệp xây dựng phải tiến hành theo 3 giai đoạn: Giai đoạn tạo dựng và mua sắm ban đầu, giai đoạn sử dụng và giai đoạn cải tạo sửa chữa. Kết quả tính toán ở giai đoạn tạo dựng và mua sắm ban đầu và giai đoạn sử dụng có thể khác nhau rất lớn, vì khi lập dự án đầu tư mua sắm ban đầu còn nhiều điều kiện cụ thể của thi công chưa biết.
- Việc lập dự án đầu tư để thành lập doanh nghiệp xây dựng mới rất phức tạp và có nhiều điểm khác với các doanh nghiệp khác.
- Vì thời gian xây dựng dài nên khi lập dự án đầu tư để thực hiện quá trình thi công phải tính đến nhân tố hiệu quả do rút ngắn thời gian xây dựng. Hơn nữa khi lập dự án đầu tư cho quá trình thi công ta không thể áp dụng quy tắc bội số chung bé nhất để làm cho thời gian tính toán của các phương án giống nhau nên phải chú ý đến nhân tố trên.
- Phương pháp phân tích và cấu trúc nội dung, dự án cũng có một số điểm khác với các doanh nghiệp của ngành công nghiệp khác.
Phân loại các trường hợp lập dự án đầu tư trong doanh nghiệp xây dựng
Từ việc xác định phải mua sắm tạo dựng ban đầu cho đến khi vận hành sử dụng đồng thời sửa chữa cải tạo đều phải đảm bảo tiêu chuẩn hiệu quả cho cuối đời của máy. Cho nên cần phân chia các trường hợp lập dự án đầu tư theo từng giai đoạn để có thể quản lý và tính toán cụ thể hiệu quả đầu tư theo thời gian, qua đó mới có thể xây dựng kế hoạch đầu tư và tổ chức thực hiện được tốt nhất. Cụ thể là:
Giai đoạn mua sắm và tạo dựng ban đầu
- Lập dự án đầu tư thành lập doanh nghiệp xây dựng mới
- Trường hợp dự báo và chưa biết hợp đồng xây dựng cụ thể.
- Trường hợp đã biết hợp đồng xây dựng.
- Lập dự án đầu tư mua sắm và tạo dựng tài sản cố định cho các doanh nghiệp hiện có
- Lập dự án đầu tư cho bộ phận tài sản cố định di động (máy xây dựng).
Lập dự án đầu tư mua sắm các tài sản cố định máy xây dựng riêng lẻ.
Lập dự án cho các tập hợp máy xây dựng.
Lập dự án đầu tư cho các trường hợp khác: Nhập khẩu máy xây dựng, Tự mua sắm hay đi thuê, Lập doanh nghiệp chuyên cho thuê máy xây dựng.
- Lập dự án đầu tư cho bộ phận tài sản cố định không di động (nhà xưởng).
Giai đoạn vận hành và sử dụng
- Lập dự án đầu tư để thực hiện quá trình xây lắp
- Cho giai đoạn tranh thầu.
- Cho giai đoạn sau khi đã thắng thầu.
- Lập dự án đầu tư theo năm niên lịch
Giai đoạn sửa chữa cải tạo và thay thế
- Lập dự án đầu tư cho sửa chữa tài sản cố định xây dựng
- Theo góc độ lợi ích của tổ chức xây lắp
Lập dự án đầu tư sửa chữa tài sản cố định xây dựng (máy xây dựng, nhà xưởng).
- Theo góc độ lợi ích của doanh nghiệp sửa chữa
Lập dự án đầu tư để thực hiện quá trình sửa chữa theo hợp đồng.
Lập dự án đầu tư cho nhà máy sửa chữa máy xây dựng.
- Lập dự án đầu tư cho cải tạo tài sản cố định xây dựng
- Lập dự án đầu tư thay thế tài sản cố định xây dựng
Các nguyên tắc xây dựng dự án và hiệu quả của dự án đầu tư
Các nguyên tắc cần tuân thủ khi xây dựng dự án
- Dự án phải đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu của dự án và của doanh nghiệp. Dù là nội dung nào của dự án thì việc giải quyết mọi vấn đề đặt ra phải hướng tới các mục tiêu, làm thế nào để thực hiện mục tiêu đó.
- Dự án phải đảm bảo kết hợp hài hoà tính khả thi và tính hiệu quả của dự án. Tuỳ theo các mục tiêu cần đạt tới mà có thể nhấn mạnh mặt này hoặc mặt kia song không thể xây dựng một dự án mà chỉ đạt tính khả thi hoặc tính hiệu quả.
- Dự án phải huy động đầy đủ mọi nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Khi xác định các nguồn lực, cần phải ưu tiên sử dụng các nguồn lực chưa khai thác triệt để hoặc hoàn toàn chưa khai thác mà doanh nghiệp đang có.
- Hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro và bất trắc có thể xảy ra. Phải nghiên cứu, phân tích và lựa chọn giải pháp hay phương án tối ưu để giải quyết một vấn đề nào đó trong từng nội dung. Tất nhiên phải chấp nhận một sự mạo hiểm nếu muốn đạt hiệu quả cao.
- Từng nội dung của dự án phải được trình bày rõ ràng, đầy đủ, đảm bảo một sự thống nhất về ngôn ngữ và cách diễn đạt nhằm tránh sự nhầm lẫn, sai lệch trong trao đổi và truyền đạt thông tin.
Hiệu quả của dự án đầu tư
- Khái niệm hiệu quả của dự án đầu tư là toàn bộ mục tiêu đề ra của dự án, được đặc trưng bằng các chỉ tiêu định tính (thể hiện ở các loại hiệu quả đạt được) và bằng các chỉ tiêu định lượng (thể hiện quan hệ giữa chi phí đã bỏ ra của dự án và các kết quả đạt được theo mục tiêu của dự án).
- Phân loại hiệu quả của dự án
- Hiệu quả về mặt định tính chỉ rõ nó thuộc loại hiệu quả gì với những tính chất kèm theo nhất định. Hiệu quả của dự án bao gồm: hiệu quả tài chính, hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả kinh tế xã hội; hiệu quả theo quan điểm lợi ích của doanh nghiệp và quan điểm quốc gia; hiệu quả thu được từ dự án và các lĩnh vực liên quan ngoài dự án; hiệu quả trực tiếp hay hiệu quả lâu dài; hiệu quả trực tiếp hay gián tiếp.
- Hiệu quả về mặt định lượng chỉ rõ độ lớn của mỗi chỉ tiêu hiệu quả định tính thông qua một hệ thống chỉ tiêu về kinh tế, kỹ thuật và xã hội, trong đó có một vài chỉ tiêu hiệu quả kinh tế được coi là chỉ tiêu đo hiệu quả tổng hợp để lựa chọn phương án. Đó là các chỉ tiêu: mức chi phí sản xuất; lợi nhuận, doanh lợi đồng vốn; thời hạn thu hồi vốn; hiệu số thu chi; suất thu lợi nội tại; tỷ số thu chi. Các chỉ tiêu này dùng riêng lẻ hay kết hợp là tuỳ theo quan điểm của nhà kinh doanh trong từng trường hợp cụ thể.
- Tiêu chuẩn khái quátđể lựa chọn phương án đầu tư là: với một số chi phí đầu tư cho trước phải đạt được kết quả lớn nhất, hay với một kết quả cần đạt được cho trước phải đảm bảo chi phí ít nhất.
Khi đánh giá hiệu quả tài chính vốn đầu tư người ta thường dùng hai loại chỉ tiêu: hiệu quả kinh tế tuyệt đối (hiệu số thu chi) và hiệu quả kinh tế theo số tương đối (tỷ số giữa kết quả và chi phí).
Khi so sánh phương án chi tiêu do hiệu quả của mỗi phương án phải vượt qua một trị số nhất định (gọi là định mức hay ngưỡng hiệu quả). Trong các phương án đánh giá này sẽ chọn lấy một phương án tốt nhất. Nếu phương án tốt nhất vừa có chỉ tiêu hiệu quả tương đối lớn nhất lại vừa có chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tuyệt đối lớn nhất thì đó là trường hợp lý tưởng. Nếu điều kiện này không được đảm bảo thì người ta thường lấy chỉ tiêu kết quả tuyệt đối làm tiêu chuẩn để chọn phương án tốt nhất nhưng chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tương đối phải lớn hơn ngưỡng của hiệu quả quy định.