Thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài

Thẩm định tài chính dự án :

Thẩm định tài chính dự án nhằm mục đích:

  • Xem xét nhu cầu, sự đảm bảo các nguồn lực tài chính cho việc thực hiện có hiệu quả các dự án đầu tư.
  • Xem xét tình hình, kết quả và hiệu quả hoạt động của dự án trên góc độ hạch toán kinh tế của đơn vị thực hiện dự án .Có nghĩa là xem xét những chi phí sẽ và phải thực hiện kể từ khi soạn thảo cho đến khi kết thúc dự án, xem xét những lợi ích mà đơn vị thực hiện dự án sẽ hoặc phải đạt được nhờ thực hiện dự án. Trên cơ sở đó đánh giá được hiệu quả về mặt tài chính để quyết định có nên đầu tư hay không. Nhà nước cũng căn cứ vào đây để xem xét dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài có lợi ích tài chính hay không và dự án có an toàn về mặt tài chính hay không.

Hiện tại hóa các giá trị theo thời gian :

Phân tích đánh giá tài chính của dự án có liên quan mật thiết với một vấn đề là hiện tại hóa các giá trị theo thời gian, vì vậy trước khi nói tới các tiêu chuẩn đánh giá dự án, chúng ta hãy xem xét vấn đề này.

Một trong các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư là các lợi ích và chi phí phát sinh ở các giai đoạn khác nhau. Nhưng giá trị đồng tiền ở các thời điểm khác nhau không như nhau, vì vậy cần đến một phương pháp quy đổi các giá trị đồng tiền ở các thời điểm khác nhau về cùng một thời điểm để xem xét và đánh giá. Điều đó chẳng những cho phép xem xét đánh giá dự án mà tạo điều kiện để so sánh lựa chọn các dự án. Kỹ thuật chuyển đổi giá trị tiền tệ tại các thời điểm khác nhau về thời điểm hiện tại gọi là hiện tại hoá.

Về nguyên tắc có thể quy đổi giá trị tiền tệ tại một thời điểm về bất kỳ một thời điểm nào. Phương pháp quy đổi như sau:

Giá trị tương lai (Vt) của một lượng tiền hiện tại (V0) được xác định như sau:

Vt = V0 (1+r)t(1)

Giá trị hiện tại (V0) của một lượng tiền tương lai (Vt) được xác định theo công thức sau:

cho dự án trong một đơn vị thời gian.Nếu tỷ lệ chiết khấu không thay đổi trong suốt thời gian tồn tại dự án thì có thể xác định giá trị hiện tại của một dãy các giá trị tương lai theo công thức:

PV = t = 0 n Vt 1 + r t size 12{ size 14{"PV"= Sum cSub { size 11{t=0}} cSup {n} { { { {} rSub { {} rSub { {} rSub {Vt} } } } over { { left (1+r right )} rSup {t} } } } }} {} (3)

Hay xác định giá trị hiện tại của một dãy các giá trị quá khứ:

PV=t=0mvt1+rt size 12{"PV"= Sum cSub { size 8{t=0} } cSup { size 8{m} } { { size 24{ size 18{v} size 8{t left ("1+r" right )}} } rSup { size 8{t} } } } {} (4)

Trong đó: n, m - là thứ tự thời gian tính từ thời điểm hiện tại hóa (0), nghĩa là: n = 1,2, 3.....; m = -1, -2, -3.....

Trong trường hợp tỷ lệ chiết khấu thay đổi theo thời gian thì công thức thứ (3) có dạng sau:

PV=t=0nVtt=0n1+rt size 12{ size 10{"PV"}= Sum cSub {t=0} cSup { size 10{n}} { { { { size 10{V} } rSub { size 8{t} } rSup {} } over { Prod cSub { size 8{ size 10{t=0}} } cSup { size 11{n}} { { size 10{ left (1+ {r} rSub { size 8{t} } rSup {} right )} } rSub {} rSup {} } } } } } {} (5)

và công thức (4) có dạng sau:

PV=t=0nt=0m1+rt size 12{ size 10{"PV"} size 14{ {}= Sum cSub { size 8{ size 10{t=0}} } cSup { size 10{n}} { size 12{ Prod cSub { size 8{t=0} } cSup { size 10{m}} { size 10{ left ("1+r" rSub { size 8{t} } right )} } " "} } }} {} (6)

Trong đó: rt- là tỷ lệ chiết khấu của năm t.

Đối với đầu tư trong khu vực tư nhân, tỷ lệ chiết khấu áp dụng để xác định giá trị hiện tại có thể lấy bằng lãi suất bình quân của các nguồn vốn sử dụng cho dự án.

Đối với đầu tư công cộng, tỷ lệ chiết khấu phải phản ánh được khả năng sinh lợi của các nguồn vốn công. Cần chú ý rằng, tỷ lệ chiết khấu áp dụng trong phân tích tài chính không thể áp dụng trong phân tích kinh tế. Tỷ lệ chiết khấu dùng trong phân tích kinh tế dự án cần phản ánh lợi ích kinh tế mà nền kinh tế phải từ bỏ (do phải đình hoãn hoặc giảm đầu tư và tiêu dùng) để đưa các nguồn lực vào đầu tư cho dự án.

Các chỉ tiêu đánh giá tài chính dự án đầu tư:

Cho đến nay người ta đã đưa ra khá nhiều các tiêu chuẩn đánh giá đầu tư, song có 4 tiêu chuẩn phổ biến và cơ bản nhất, đó là:

- Giá trị hiện tại ròng (Net Present Value - NPV)

- Tỷ số lợi ích - chi phí (Benefit/cost - R=B/C)

- Tỷ lệ nội hoàn (Internal Rate of Return - IRR)

- Thời gian hoàn vốn (Pay Back period - Tth)

Ngoài ra còn có một số các chỉ tiêu bổ sung khác như : Mức độ đảm bảo trả nợ; điểm hoà vốn và các chỉ số tài chính khác. Dưới đây sẽ trình bày phương pháp tính toán và phân tích đánh giá theo từng chỉ tiêu.

+ Giá trị hiện tại ròng (NPV).

Thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi các chi phí gọi là thu nhập ròng (thuần). Giá trị hiện tại của thu nhập ròng gọi là (NPV).

Mục đích của việc tính hiện giá thu nhập ròng của một dự án là để xác định xem việc sử dụng các nguồn lực (vốn) theo dự án đó có mang lại lợi ích lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng không? Với ý nghĩa này NPV được xem là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá dự án. NPV được xác định theo công thức sau:

NPV=t=0nBtCt(1+r)t size 12{ size 10{"NPV"}= Sum cSub { size 8{t=0} } cSup { size 8{ size 10{n}} } { { { size 10{ left ( {B} rSub {t} - {C} rSub {t} right )} } over { { size 10{ \( 1+r \) } } rSub {} rSup { size 8{t} } } } } } {} (7)

Trong đó: Bt - Thu nhập của dự án năm t

Ct - Chi phí của dự án năm t

n - Thời đoạn phân tích dự án

r – Tỷ lệ chiết khấu áp dụng cho dự án

Đánh giá dự án theo tiêu chuẩn này tuân thủ một số nguyên tắc sau:

- Chỉ chấp nhận các dự án có NPV > 0 với tỷ lệ chiết khấu bằng chi phí cơ hội của vốn:

- Trong giới hạn của ngân sách, trong số các dự án có thể chấp nhận được cần chọn những dự án cho tổng NPV max.

Với nguyên tắc này cũng có thể suy ra, cùng một khả năng về ngân sách (cho một dự án) phương án được chọn sẽ là phương án có NPV max.

- Nếu các dự án loại trừ lẫn nhau (thực hiện dự án này sẽ không thực hiện các dự án khác) thì cần phải chọn dự án có NPV max.

+ Tỷ số lợi ích - chi phí (R)

Tỷ số lợi ích - chi phí được tính bằng tỉ số giá trị hiện tại thu nhập và giá trị hiện tại của các chi phí của dự án với tỷ lệ chiết khấu bằng chi phí cơ hội của vốn. Tỷ số R được tính theo công thức sau:

R=t=0nBt1+rtt=0nCt1+rt size 12{R= { { Sum cSub { size 8{"t=0"} } cSup { size 8{n} } { { { { size 10{B} } rSub { size 8{t} } rSup {} } over { { size 10{ left (1+r right )} } rSub {} rSup { size 8{t} } } } } } over { Sum cSub { size 8{"t=0"} } cSup { size 8{n} } { { { { size 10{C} } rSub { size 8{t} } rSup {} } over { { size 10{ left (1+r right )} } rSub {} rSup { size 8{t} } } } } } } } {} (8)

Trong đó: Bt - thu nhập của dự án năm t; Ct - Chi phí cho dự án năm t; các ký hiệu khác như trên.

Chỉ tiêu này thường sử dụng để xếp hạng các dự án: Các dự án có R lớn nhất sẽ được chọn.

Tuy nhiên, sử dụng tiêu chuẩn này sẽ dẫn tới sai lầm nếu như các dự án có quy mô khác nhau.

+ Tỷ lệ nội hoàn (IRR)

Tỷ lệ nội hoàn (IRR) là tỷ lệ chiết khấu mà với tỷ lệ này giá trị hiện tại ròng của dự án bằng 0, đựơc tính từ hệ thức sau:

NPV=t=0nBtCt(1+IRR)t=0 size 12{ size 10{"NPV"}= Sum cSub { size 8{t=0} } cSup { size 8{ size 10{n}} } { { { size 10{ left ( {B} rSub {t} - {C} rSub {t} right )} } over { { size 10{ \( 1+"IRR" \) } } rSub {} rSup { size 8{t} } } } } =0} {} (9)

Trong đó : Các ký hiệu như các công thức trên; IRR được coi như ẩn số phải tìm.IRR phản ánh mức sinh lãi của dự án sau khi đã hoàn vốn.

Sử dụng tiêu chuẩn IRR có ưu điểm là có được tính toán chỉ dựa vào các số liệu của dự án mà không cần số liệu về chi phi cơ hội của vốn (tỷ lệ chiết khấu) . Tuy nhiên, tiêu chuẩn này có một số nhược điểm sau:

a) Không xác định đựơc 1 tỷ lệ nội hoàn trong trường hợp biến dạng của đồng tiền thay đổi nhiều lần từ (-) sang (+) hoặc từ (+) sang (-) vì có rất nhiều lời giải khi tính toán IRR.

b) Sử dụng tiêu chuẩn IRR để lựa chọn dự án sẽ dẫn tới sai lầm khi các dự án là những giải pháp thay thế nhưng có những điều kiện khác nhau:

. Đối với dự án thay thế nhau nhưng có quy mô khác nhau:

. Đối với dự án thay thế lẫn nhau nhưng thời gian tồn tại khác nhau.

. Các dự án thay thế lẫn nhau nhưng đầu tư vào thời điểm khác nhau.

Tính toán xác định IRR theo công thức (9) tương đối phức tạp trong điều kiện không sử dụng máy vi tính. Để đơn giản, có thể xác định IRR theo phương pháp gần đúng sau:

IRR = r 1 + NPV 1 r 2 r 1 NPV 1 NPV 2 size 12{ size 16{"IRR"}= { size 24{r} } rSub { size 8{1} } + { { { size 24{ size 14{"NPV"}} } rSub { size 8{1} } left ( { size 24{r} } rSub { size 8{2} } - { size 24{r} } rSub { size 8{1} } right )} over { left ( { size 24{ size 14{"NPV"}} } rSub { size 8{1} } - { size 24{ size 14{"NPV"}} } rSub { size 8{2} } right )} } } {}

+ Thời gian hoàn vốn - Tth:

Thời gian hoàn vốn là chỉ tiêu sử dụng khá rộng rãi trong quyết định đầu tư, đặc biệt là các dự án đầu tư kinh doanh.

Thời gian hoàn vốn ( Tth ) được xác định từ biểu thức sau:

NPV=t=0TthBtCt(1+r)t=0 size 12{ size 10{"NPV"}= Sum cSub { size 8{t=0} } cSup { size 8{ { size 10{ size 11{T}} } rSub { size 6{ size 9{"th"}} } } } { { { size 10{ left ( {B} rSub {t} - {C} rSub {t} right )} } over { { size 10{ \( 1+r \) } } rSub {} rSup { size 8{t} } } } } =0} {} (10)

Thời gian thu hồi vốn Tth là khoảng thời gian từ khi bắt đầu thực hiện đầu tư đến năm T thỏa mãn biểu thức trên.

Nhược điểm cơ bản của chỉ tiêu này là trong một số trường hợp nó loại bỏ các dự án có khả năng sinh lợi muộn như là các dự án đầu tư công cộng (cầu, đường,....).

Vấn đề lạm phát trong phân tích đánh giá dự án

Trên thực tế việc lập và đánh giá dự án thường tính theo mặt bằng giá cả của một năm nào đó. Thực ra giả thiết này đã làm sai lệch một cách đáng kể tình trạng thực của dự án và không ít trường hợp dẫn tới những sai lầm khi xem xét, đánh giá dự án.

Cần phải chú ý rằng, lạm phát là vấn đề có tính chất vĩ mô do nhiều nguyên nhân khác nhau, vì vậy phân tích dự án coi lạm phát như một yếu tố khách quan, bản thân các dự án không thể khắc phục được. Vấn đề đặt ra là phải loại trừ ảnh hưởng của yếu tố này như thế nào khi phân tích, đánh giá dự án.

Tác động của lạm phát đến dự án:

* Tác động trực tiếp:

+ Đối với chi phí đầu tư: Đối với các dự án thực hiện đầu tư trong một thời gian dài cần phải xác định nhu cầu tiền tệ trong tương lai cần cho việc thực hiện dự án. Lượng tiền này tùy thuộc vào mức độ lạm phát, nếu mức lạm phát càng cao thì nhu cầu tiền để thực hiện công việc trong tương lai càng cao so với lượng tính theo giá hiện thời.

Việc tăng lượng tiền do lạm phát khác với việc ước tính chi phí quá cao, nó là hiện tượng bình thường, nhưng phải được tính tới khi xác định chi phí đầu tư và thanh toán các khoản nợ để đảm bảo nguồn tài chính cho dự án.

+ ảnh hưởng đến cân đối tiền mặt

Khi có lạm phát phải tính lượng tiền mặt bổ sung để đủ cân đối về tài chính, lượng tiền sử dụng phải tăng lên.Lạm phát càng tăng làm tăng nhu cầu tiền mặt và hiệu quả dự án càng thấp, nghĩa rằng trong điều kiện lạm phát càng giữ tiền càng bất lợi.

* Tác động gián tiếp:

+ Tác động của lạm phát đến tiền lãi.

ảnh hưởng của lạm phát đến tiền lãi trước hết là làm thay đổi lãi suất danh nghĩa. Tổng quát lãi suất danh nghĩa i trong điều kiện lạm phát với mức g% có thể xác định như sau:

i = r + R + (1+r+R) g

Trong đó: r - lãi suất thực

R- tỷ lệ rủi ro

+ Tác động đến thuế:

Thuế được tính theo lợi nhuận chịu thuế tức là khoản thu nhập sau khi đã trừ đi tiền lãi vay . Nhưng trả lãi vay không tính theo mức lạm phát hàng năm vì vậy phần thu nhập tính thuế (danh nghĩa) tăng lên và do đó thuế sẽ tăng dần lên và sau cùng sẽ ảnh hưởng tới dòng tiền của dự án.

Nếu xem xét trên quan điểm tổng vốn thì vấn đề này không quan trọng vì không tính tới lãi suất vay và việc tăng hay giảm thuế thì cũng chỉ là sự chuyển giao từ nhà đầu tư sang Chính phủ hoặc ngựơc lại. Nếu xét trên quan điểm chủ đầu tư thì đây là vấn đề hệ trọng vì tình trạng lạm phát làm thay đổi dòng tiền và cuối cùng là NPV sẽ thay đổi.

ảnh hưởng của lạm phát đến thuế ngoài cách thức thông qua các khoản thanh toán lãi vay còn thông qua khấu hao với cách thức tương tự. Khấu hao được hạch toán trên cơ sở chi phí lịch sử của các tài sản khấu hao vì vậy không chịu tác động của lạm phát. Trong khi đó thuế được xác định trên thu nhập sau khi đã trừ khấu hao, vì vậy lạm phát sẽ làm tăng giá trị tính thuế và sau đó tăng thuế như đã nói ở trên.

+ ảnh hưởng tồn kho và chi phí sản xuất.

Trong điều kiện lạm phát cùng một lượng hàng hóa nhưng thời điểm nhập và xuất khác nhau được hạch toán với giá trị khác nhau. Điều đó làm thay đổi thu nhập, thuế và các chỉ tiêu tài chính khác.

Xử lý lạm phát trong phân tích tài chính của dự án.

Những vấn đề trình bày ở trên cho thấy lạm phát tác động đến tình hình tài chính của dự án theo nhiều mối quan hệ và theo nhiều hướng khác nhau. Để xây dựng bản báo cáo tài chính của dự án phản ánh tác động của lạm phát đến giá trị tài chính thực của dự án cần thực hiện hai bước tổng quát sau:

*ước tính các yếu tố tài chính như: thuế, nhu cầu tiền mặt, tiền trả lãi, trả gốc... theo thời gian khi phát sinh nghiệp vụ tài chính đó.

*Điều chỉnh loại trừ ảnh hưởng lạm phát để đưa các giá trị thực của các yếu tố này vào báo cáo tài chính.

Bước điều chỉnh các yếu tố trong báo cáo tài chính để loại trừ ảnh hưởng của lạm phát đựơc thực hiện theo chỉ số giá cả bằng giá của năm t so với giá của năm cơ sở.

Phân tích rủi ro

Một dự án thường tồn tại trong một thời gian dài, lợi ích và chi phí diễn ra trong thời gian đó. Lợi ích của dự án phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố mà mỗi yếu tố đó ở một mức độ khác nhau đều có mức không chắc chắn nhất định (rủi ro).

Để hạn chế rủi ro của dự án cần phải có đựơc các thông tin về các yếu tố xác định trong dự án với độ tin cậy cao. Tuy nhiên điều này khó có thể đạt được (trong giai đoạn chuẩn bị dự án) hoặc đạt đựơc với chi phí rất tốn kém cho công tác dự báo, dự đoán hoặc tìm kiếm.

Có hai loại rủi ro: Rủi ro hệ thống và rủi ro không hệ thống.

- Rủi ro hệ thống là rủi ro chung, mang tính chất vĩ mô bản thân dự án không thể phân tán hoặc quản lý đựơc (lạm phát, thiên tai, chiến tranh...).

- Rủi ro không hệ thống là rủi ro riêng đối với dự án, có thể phân tán và quản lý đựơc (biến động giá đầu vào , đầu ra....).

Phân tích rủi ro nhằm giảm bớt khả năng thực hiện các dự án tồi đồng thời không loại bỏ các dự án tốt. Bằng việc phân tích rủi ro người ta xác định mức độ chắc chắn của các yếu tố xác định và kết quả hoạt động của dự án và vì vậy sẽ có khả năng loại bớt những dự án mức rủi ro cao. Phân tích rủi ro còn làm cơ sở cho việc quản lý rủi ro bằng cách phân tán chia sẻ rủi ro của dự án thông qua các yếu tố hợp đồng trong quá trình thực hiện đầu tư và vận hành dự án.

Các phương pháp phân tích rủi ro .

-Phân tích độ nhạy:

Phân tích độ nhạy nhằm kiểm tra mức độ nhạy cảm của kết quả dự án đối với sự biến động của từng yếu tố, nói khác đi phân tích độ nhạy nhằm xác định kết quả của dự án (các chỉ tiêu đặc trưng) trong điều kiện biến động của các yếu tố xác định kết quả đó.

Phân tích độ nhạy cho phép xác định mức độ quan trọng của các yếu tố (nguồn rủi ro) và chiều hướng tác động của các yếu tố đó tới kết quả dự án.

Phân tích độ nhạy được thực hiện bằng cách tính toán các chỉ tiêu đánh giá kết quả tài chính của dự án (NPV, IRR...) theo biến thiên của yếu tố ảnh hưởng. Phân tích độ nhạy theo phương pháp này cho biết độ dung sai cho phép thực hiện dự án và xác định độ nhạy cảm của dự án với yếu tố xem xét.

Phân tích độ nhạy có những hạn chế:

- Không thể xem xét đồng thời nhiều nhân tố

- Các trị số trong dãy biến thiên của các yếu tố không đại diện cho yếu tố đó (không phải là khả năng xảy ra cao nhất ).

Với những nhược điểm trên phân tích độ nhạy không cho phép đánh giá đầy đủ mức độ rủi ro của dự án.

-Phân tích trường hợp:

Phân tích trường hợp là đánh giá kết quả dự án trong một số trường hợp với những điều kiện nhất định của các yếu tố xác định dự án. Thường người ta phân tích cho 2 trường hợp có tính chất cực đoan: bất lợi nhất và có lợi nhất có thể xảy ra (thí dụ, đối với giá sản phẩm là giá thấp nhất/cao nhất, đối với chi phí đầu tư là mức cao nhất/thấp nhất có thể xảy ra đối với dự án).

Phân tích trường hợp xuất phát từ quan điểm cho rằng các biến số có tác động qua lại lẫn nhau và có sự kết hợp với nhau. Một số yếu tố có thể đồng thời biến động theo một hướng bất lợi hoặc có lợi cho dự án.

Phân tích trường hợp có nhược điểm:

- Không thể xác định đựơc tất cả các trường hợp kết hợp lẫn nhau của các yếu tố.

- Không xác định đựơc tất cả các trường hợp tính toán (bất lợi nhất hoặc thuận lợi nhất).

-Phương pháp phân tích rủi ro theo mô phỏng Monte Carlo

Khắc phục nhược điểm của các phương pháp phân tích rủi ro nói trên, người ta áp dụng phương pháp phân tích Monte Carlo. Phân tích rủi ro theo phương pháp phân tích kết quả của dự án dưới tác động đồng thời của các nhân tố có tính tới phân bố xác suất và phạm vi khác nhau các giá trị có thể của các biến số nhân tố đó.

Khác với phân tích độ nhạy, phân tích rủi ro Monte Carlo xem xét đồng thời sự kết hợp của các yếu tố. Khác với phân tích trường hợp, trong phân tích rủi ro Monte Carlo tính tới mối quan hệ của các yếu tố. Chính vì những khả năng nói trên làm cho phương pháp này có phạm vi ứng dụng rất rộng rãi. Tuy nhiên, đây là phương pháp khá phức tạp đòi hỏi người phân tích phải có kinh nghiệm, kỹ năng thực hiện tốt với sự trợ giúp kỹ thuật của tính toán hiện đại.

Thẩm định việc tính toán các chỉ tiêu tài chính của dự án :

Cần thẩm tra tất cả các chỉ tiêu tính toán, phương pháp tính toán trong dự án nghiên cứu khả thi, kiểm tra tổng số vốn và số vốn góp của các bên, kiểm tra về cơ cấu vốn. Trong các dự án FDI, theo quy định, bên nước ngoài góp vốn pháp định ít nhất là 30%, trừ trường hợp cơ quan cấp giấy phép cho phép thấp hơn nhưng vẫn phải ít nhất là 20%.

+ Thẩm tra việc tính toán xác định tổng vốn đầu tư và tiến độ bỏ vốn:

  • Vốn đầu tư xây lắp: nội dung thẩm tra tập trung vào việc xác định nhu cầu xây dựng hợp lý của dự án và mức độ hợp lý của đơn giá xây lắp tổng hợp được áp dụng so với kinh nghiệm đúc kết từ các dự án hoặc loại công tác xây lắp tương tự.
  • Vốn đầu tư thiết bị: căn cứ vào danh mục thiết bị, kiểm tra giá mua và chi phí vận chuyển bảo quản cần thiết. Đối với loại thiết bị có kèm theo chuyển giao công nghệ mới thì vốn đầu tư thiết bị còn bao gồm cả chi phí chuyển giao công nghệ.
  • Chi phí khác: các khoản mục chi phí này cần được tính toán kiểm tra theo quy định hiện hành của nhà nước. Đó là các khoản chi phí được phân theo các giai đoạn của quá trình đầu tư và xây dựng. Các khoản chi phí này được xác định theo định mức.
  • Ngoài các yếu tố về vốn đầu tư trên, cần thẩm tra một số nội dung chi phí đầu tư sau:

-Nhu cầu vốn lưu động ban đầu( đối với dự án xây dựng mới) hoặc nhu cầu vốn lưu động bổ sung(đối với dự án mở rộng bổ sung thiết bị) để sau khi hoàn thành có thể hoạt động bình thường.

-Chi phí thành lập gồm chi phí để mua sắm các vật dụng cần thiết không phải là tài sản cố định và các chi phí để hoạt động ban đầu

-Chi phí trả lãi vay ngân hàng trong thời gian thi công

Việc xác định đúng đắn vốn đầu tư của dự án là rất cần thiết, tránh hai khuynh hướng tính quá cao hoặc quá thấp.

Sau khi xác định vốn đầu tư , cần xem xét việc phân bổ vốn đầu tư theo chương trình tiến độ đầu tư . Đây là công việc rất cần thiết đặc biệt là đối với công trình có thời gian xây dựng dài.

+ Thẩm tra việc tính toán giá thành, chi phí sản xuất: trên cơ sở bảng tính giá thành đơn vị hoặc tổng chi phí hàng năm của dự án .

  • Tính đầy đủ các yếu tố chi phí giá thành sản phẩm. Đối với các yếu tố giá thành cần xem xét sự hợp lý của các định mức sản xuất tiêu hao, có so sánh các định mức và các kinh nghiệm từ các dự án đang hoạt động.
  • Kiểm tra chi phí nhân công trên cơ sở số lượng nhân công cần thiết cho một đơn vị sản phẩm và số lượng nhân công vận hành dự án.
  • Kiểm tra việc tính toán, phân bổ chi phí về lãi vay ngân hàng ( lãi vay dài hạn, ngắn hạn) và giá thành sản phẩm.
  • Đối với các chi phí tính bằng tỷ lệ % cần kiểm chứng bằng kinh nghiệm và thực tiễn từ các hoạt động sẵn có của chủ dự án.
  • Đối với các loại thuế của nhà nước được phân bổ vào giá bán sản phẩm tùy loại hình sản xuất mà có sự phân tích, tính toán.

+ Kiểm tra về cơ cấu vốn và cơ cấu nguồn vốn:

  • Cơ cấu vốn ( theo công dụng: xây lắp, thiết bị, chi phí khác) thường được coi là hợp lý nếu tỷ lệ đầu tư cho thiết bị cao hơn xây lắp. Đối với các dự án đầu tư theo chiều sâu và mở rộng, tỷ lệ đầu tư thiết bị cần đạt là 60%. Tuy nhiên cần linh hoạt theo tính chất và điều kiện cụ thể của dự án .
  • Cơ cấu vốn bằng nội tệ và ngoại tệ: xác định số vốn đầu tư và chi phí sản xuất bằng ngoại tệ để có cơ sở quy đổi tính toán hiệu quả của dự án.
  • Phân tích cơ cấu nguồn vốn và khả năng bảo đảm nguồn vốn: việc thẩm định chỉ tiêu này cần chỉ rõ mức vốn đầu tư cần thiết từ từng nguồn vốn dự kiến để đi sâu phân tích tìm hiểu khả năng thực hiện của các nguồn vốn đó.
  • Thẩm định tính hiện thực của nguồn vốn và xác định lịch trình cung cấp vốn từ các nguồn vốn đó.

+ Kiểm tra các chỉ tiêu phân tích tài chính của dự án như:

  • Chỉ tiêu đánh giá tiềm lực tài chính: hệ số vốn tự có so với vốn vay, tỷ trọng vốn tự có trong vốn đầu tư , tỷ lệ giữa vốn lưu động và nợ ngắn hạn…

Trên những vấn đề: an toàn về vốn, an toàn về khả năng trả nợ, độ nhạy của dự án.

Các chỉ tiêu đánh giá an toàn về vốn có thể là: tỷ lệ vốn riêng, tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ cấp thời.

Chỉ tiêu đánh giá an toàn về trả nợ: trong các dự án FDI có vay vốn thì phải xét cụ thể độ an toàn về trả nợ hàng năm. Điều kiện vay phải quy định rất chặt chẽ như số vốn vay, lãi suất vay, thời hạn trả, chế độ vay và những quy định khác. Về mặt nguyên tắc, nếu vay bằng đồng tiền nào thì trả bằng đồng tiền đó, nếu không thì phải quy định rõ từ đầu trong điều kiện vay. Trong trường hợp này phải chú ý tới sự biến động của các đồng tiền (đồng tiền tính toán và đồng tiền thanh toán).Cần xác định một số chỉ tiêu như : nghĩa vụ trả nợ hàng năm, khả năng trả nợ vay dài hạn. Khả năng tạo vốn bằng tiền mặt của dự án bao gồm các khoản lãi ròng phần dùng để trả nợ và khấu hao phần vốn vay. Trong thực tế, tiền khấu hao vốn riêng hàng năm nếu nhàn rỗi có thể tạm huy động để trả nợ.

Độ nhạy của dự án cho ta thấy trước tính ổn định của dự án trước các biến động khách quan, các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thực hiện dự án .

Thẩm định tư cách pháp lý, năng lực tài chính của nhà đầu tư nước ngoài và bên Việt Nam.

Về hồ sơ trình duyệt:

Đây là bước đầu tiên, cần phải kiểm tra xem hồ sơ trình duyệt đã đủ chưa, các hồ sơ chứng nhận có hợp lệ không.

Nhìn chung, bộ hồ sơ xin cấp giấy phép đầu tư gồm:

  • Đơn xin cấp giấy phép đầu tư (theo mẫu đã quy định)
  • Hợp đồng liên doanh (nếu là Hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc doanh nghiệp liên doanh )
  • Điều lệ doanh nghiệp (với doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp100% vốn đầu tư nước ngoài)
  • Văn bản xác nhận tư cách pháp lý, tình hình tài chính của các bên
  • Giải trình kinh tế- kỹ thuật
  • Các hồ sơ về công nghệ: hồ sơ xin thuê đất, báo cáo đánh giá tác động môi trường , chứng chỉ quy hoạch và thiết kế sơ bộ của dự án.

Về tư cách pháp nhân của các bên tham gia đầu tư :

Đối với doanh nghiệp trong nước cần xem xét: quyết định thành lập hay thành lập lại của doanh nghiệp; cơ quan ra quyết định thành lập hay thành lập lại; cơ quan cấp trên trực thuộc; chức vụ, người đại diện chính thức; địa chỉ, điện thoại, fax.

Thành phần kinh tế khác: giấy phép hoạt động, cơ quan cấp giấy phép, người đại diện chính thức, chức vụ; vốn pháp định ; giấy chứng nhận khả năng tài chính do ngân hàng cấp; địa chỉ, điện thoại, fax.

Bên nước ngoài: việc thẩm định này là khó khăn phức tạp nhất và người thẩm định phải hiểu được các thông tin sau về bên nước ngoài:

- là công ty độc lập hay đại diện cho một tập đoàn, là công ty tài chính hay công ty đầu tư , quan hệ với các công ty lớn ra sao;

- mục tiêu, sở trường của họ là gì, họ đã tham gia thị trường chứng khoán hay chưa, mục tiêu kinh doanh chính của họ có phù hợp với mục tiêu hợp tác đầu tư và khả năng của họ hay không;

- tư cách pháp nhân của bên nước ngoài thể hiện ở giấy phép đăng ký do cơ quan thẩm quyền hợp hiến và hợp pháp cấp;

- lịch sử hoạt động kinh doanh của đối tác: năm thành lập, quy mô hoạt động, uy tín và ảnh hưởng trên thị trường, cơ cấu tổ chức, các thành tích đạt được, năng lực tài chính.

Về năng lực tài chính của các bên tham gia đầu tư :

Năng lực tài chính thể hiện khả năng thực hiện dự án của các nhà đầu tư, đồng thời liên quan đến quyền lợi của chủ đầu tư và quyền lợi chung của nhà nước nên cần được thẩm tra kỹ lưỡng.

Về tình trạng tài chính:

  • kiểm tra giấy chứng nhận do ngân hàng mở cấp, đồng thời ngân hàng đó cũng phải là ngân hàng có năng lực ( vì luật pháp các nước trên thế giới là khác nhau)
  • kết quả hoạt động tài chính của chủ đầu tư tối thiểu là hai năm gần nhất, phản ánh doanh số, lợi nhuận, nhịp độ tăng trưởng cũng như nợ nần. Việc thẩm tra này có thể qua tiếp xúc trực tiếp , qua văn bản hoặc qua các tổ chức kiểm toán, công ty tư vấn, công ty tài chính, ngân hàng.

Thẩm định lợi ích kinh tế- xã hội.

Thẩm định kinh tế-xã hội là một nội dung quan trọng của dự án. Trên góc độ người đầu tư là các doanh nghiệp, mục đích quy tụ là lợi nhuận. Khả năng sinh lợi của dự án là thước đo chủ yếu quyết định sự chấp nhận một việc làm mạo hiểm của nhà đầu tư. Khả năng sinh lợi càng cao thì càng hấp dẫn các nhà đầu tư.

Tuy nhiên, không phải mọi dự án có khả năng sinh lợi cao đều tạo ra những ảnh hưởng tốt đối với kinh tế-xã hội. Do đó, trên giác độ quản lý vĩ mô phải xem xét, đánh giá việc thực hiện dự án đầu tư có những tác động gì đối với việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, có nghĩa là phải xem xét mặt kinh tế-xã hội của dự án, xem xét những lợi ích kinh tế-xã hội do thực hiện dự án đem lại. Điều này giữ vai trò quyết định để các cấp có thẩm quyền chấp nhận cho phép đầu tư, các tổ chức tài chính quốc tế, các cơ quan viện trợ song phương và đa phương tài trợ cho dự án.

Lợi ích kinh tế-xã hội của dự án đầu tư là chênh lệch giữa các lợi ích mà nền kinh tế và xã hội thu được so với các đóng góp mà nền kinh tế và xã hội phải bỏ ra khi thực hiện dự án.

Các tiêu chuẩn đánh giá:

Đối với mọi quốc gia, mục tiêu chủ yếu của nền sản xuất xã hội là tối đa hoá phúc lợi. Mục tiêu này thường thể hiện trong các chủ trương chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của mỗi nước. Với các nước đang phát triển, lợi ích kinh tế-xã hội thường được đề cập là :

  • Nâng cao mức sống của dân cư: được thể hiện gián tiếp qua các số liệu cụ thể về mức gia tăng sản phẩm quốc dân, mức gia tăng tích luỹ vốn, mức gia tăng đầu tư, tốc độ phát triển, tốc độ tăng trưởng…
  • Phân phối lại thu nhập thể hiện qua sự đóng góp của dự án vào việc phát triển các vùng kinh tế kém phát triển, nâng cao đời sống của tầng lớp dân cư nghèo.
  • Gia tăng số lao động có việc làm. Đây là một trong những mục tiêu chủ yếu của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của các nước thừa lao động, thiếu việc làm.
  • Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ. Những nước đang phát triển không chỉ nghèo mà còn là các nước nhập siêu. Do đó đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu là những mục tiêu quan trọng trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân.
  • Các mục tiêu khác:
  • Tận dụng, khai thác tài nguyên chưa được quan tâm hay mới phát hiện
  • Nâng cao năng suất lao động, đào tạo lao động có trình độ tay nghề cao, tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật để hoàn thiện cơ cấu sản xuất của nền kinh tế
  • Phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo có tác dụng gây phản ứng dây chuyền thúc đẩy phát triển các ngành nghề khác
  • Phát triển các địa phương nghèo, các vùng xa xôi dân cư thưa thớt nhưng có nhiều triển vọng về tài nguyên để phát triển kinh tế.

Phương pháp đánh giá lợi ích kinh tế-xã hội do thực hiện dự án đầu tư .

Tuỳ thuộc vào phạm vi xem xét ở tầm vĩ mô hay vi mô mà có các phương pháp đánh giá khác nhau.

+ Xuất phát từ góc độ nhà đầu tư là các doanh nghiệp, lợi ích kinh tế-xã hội của dự án được xem xét biệt lập với những tác động của nền kinh tế đối với dự án. Trong trường hợp này, phương pháp được áp dụng là dựa trực tiếp vào số liệu của các báo cáo tài chính của dự án để tính các chỉ tiêu định lượng và thực hiện các xem xét mang tính chất định tính sau đây:

  • Mức đóng góp cho ngân sách (các khoản nộp vào ngân sách khi dự án bắt đầu hoạt động như VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, thuế đất, lệ phí chuyển tiền…) từng năm và cả đời dự án .
  • Số chỗ việc làm tăng thêm từng năm và cả đời dự án .
  • Số ngoại tệ thu từ dự án hàng năm và cả đời dự án
  • Tổng chi tiền nội địa tính trên 1 đơn vị ngoại tệ thực thu
  • Mức tăng năng suất lao động sau khi có dự án so với trước khi có dự án từng năm và bình quân cả đời dự án .
  • Mức nâng cao trình độ nghề nghiệp của người lao động: thể hiện ở chỉ tiêu bậc thợ bình quân thay đổi sau khi có dự án so với trước khi có dự án
  • Tạo thị trường mới và mức độ chiếm lĩnh thị trường của dự án.
  • Nâng cao trình độ kỹ thuật của sản xuất: thể hiện ở mức thay đổi cấp bậc công việc bình quân sau khi có dự án so với trước khi có dự án.
  • Nâng cao trình độ quản lý của lao động quản lý: thể hiện ở sự thay đổi mức đảm nhiệm quản lý sản xuất, quản lý lao động, quản lý tài sản cố định của lao động quản lý sau khi có dự án so với trước khi có dự án
  • Các tác động đến môi trường, môi sinh
  • Đáp ứng việc thực hiện các mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, các nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội trong từng thời kỳ.

+ Đối với các cấp quản lý về vĩ mô của nhà nước, khi xem xét lợi ích kinh tế-xã hội của dự án phải tính đến mọi chi phí trực tiếp và gián tiếp có liên quan đến việc thực hiện dự án, mọi lợi ích trực tiếp và gián tiếp thu được do dự án đem lại.

Để xác định các chi phí, lợi ích đầy đủ của các dự án đầu tư phải sử dụng các báo cáo tài chính, tính lại các giá đầu vào và đầu ra theo giá xã hội ( giá ẩn). Không thể sử dụng giá thị trường để tính thu chi và lợi ích kinh tế-xã hội vì giá thị trường chịu sự chi phối của các chính sách tài chính, kinh tế, hành chính của nhà nước. Do đó, giá thị trường không phản ánh đúng chi phí xã hội thực tế. Vì vậy, khi tính toán hiệu quả kinh tế-xã hội của những dự án có tầm cỡ lớn phải điều chỉnh lại các giá này theo giá xã hội, phải lưu ý đến các yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng đến dự án và ngược lại.

Các nguyên tắc cần quán triệt trong điều chỉnh là :

Đối với đầu ra:

  • Để xuất khẩu dùng giá FOB điều chỉnh. Đây là giá xã hội thực tế sử dụng trong nước.
  • Để tiêu thụ nội địa thay thế nhập khẩu dùng giá CIF điều chỉnh. Đây là giá xã hội thực tế sử dụng trong nước.
  • Để tiêu thụ nội địa:
  • Nếu là hàng thiết yếu dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh. Giá này bằng giá thị trường trong nước cộng với trợ giá (nếu có).
  • Nếu là hàng thông thường dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh. Giá này bằng giá thị trường trong nước cộng với thuế gián thu (nếu có).

Đối với dịch vụ hạ tầng tiêu thụ nội địa (nếu không thể xuất khẩu như điện, nước, khí đốt, vận tải…) dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh hoặc chi phí sản xuất tuỳ thuộc loại nào cao hơn.

Đối với đầu vào:

  • Nhập khẩu (vật tư, thiết bị) dùng giá CIF điều chỉnh. Giá này bằng giá CIF cộng với cước phí vận tải, phí bảo hiểm… trong nước. Đây là giá xã hội thực tế thanh toán ở trong nước.
  • Sản xuất nội địa:
  • Loại đầu vào sản xuất nội địa có thể xuất khẩu dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh hoặc giá FOB điều chỉnh tuỳ thuộc giá nào cao hơn.
  • Loại đầu vào sản xuất nội địa có thể nhập khẩu dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh hoặc giá CIF điều chỉnh tuỳ thuộc giá nào thấp hơn.
  • Các loại đầu vào khác dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh (giá thị trường cộng với trợ giá).

Dich vụ hạ tầng tạo ra trong nước nếu không thể xuất hoặc nhập khẩu được dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh hoặc chi phí sản xuất tuỳ thuộc mức nào cao hơn.

Đất đai: dùng giá thị trường trong nước điều chỉnh đối với đất để xây dựng nhà máy .

Lao động: gồm tiền lương, tiền thưởng và phụ cấp.

Để điều chỉnh giá FOB và CIF về tiền nội địa cần sử dụng tỷ giá hối đoái có điều chỉnh. Tỷ giá hối đoái có điều chỉnh là thước đo giá trị xã hội thực tế của ngoại tệ khi tỷ giá chính thức bị sai lệch không phản ánh đúng giá trị thực tế của ngoại tệ.

Thẩm định kỹ thuật, công nghệ.

Đây là một công việc khá phức tạp, tốn kém vì phải kiểm tra các phép tính toán, xem xét toàn bộ các kết quả giải trình kinh tế- kỹ thuật. Phải xem xét đến công nghệ và phương pháp sản xuất, chuyển giao công nghệ đặc biệt là công nghệ cao. Công nghệ chuyển giao phải đạt được các yêu cầu sau:

  • Công nghệ tạo ra sản phẩm mới và cần thiết hoặc sản xuất hàng xuất khẩu.
  • Nâng cao tính năng kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực sản xuất.
  • Tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên.

Đồng thời nghiêm cấm việc chuyển giao công nghệ có ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái và an toàn lao động. Với công nghệ từ các nước G7 thì không quá 10 năm, từ các nước khác không quá 8 năm, chất lượng còn lại phải lớn hơn hoặc bằng 80% máy mới, không được tiêu hao nguyên liệu quá 10%. Phải xem xét về công suất máy móc thiết bị, công suất khả thi, mức sản xuất dự kiến. Đặc biệt cần quan tâm là giá cả thiết bị công nghệ (kể cả phần cứng và phần mềm). Những yếu tố nhập khẩu do lượng thông tin không đầy đủ hoặc thiếu kinh nghiệm, các nhà soạn thảo thường dễ bị sơ hở nên cần được kiểm tra kỹ lưỡng.

Khi thẩm định phải rất quan tâm xem xét:

  • ảnh hưởng của dự án đến môi trường và cách xử lý các chất có khả năng gây ô nhiễm qua nước thải, chất thải rắn, khí thải.
  • Các giải pháp mà dự án sử dụng để chống ô nhiễm, các thiết bị sẽ sử dụng để thực hiện các giải pháp đó.
  • Giải pháp xử lý cuối cùng (phân huỷ, chôn cất) các chất độc hại thu hồi từ khí thải, nước thải, chất thải rắn của dự án.
  • Thành phần khí thải, nước thải, chất thải rắn sau khi áp dụng các biện pháp trên.

Đồng thời cần xem xét những ảnh hưởng khác đến môi trường và biện pháp khắc phục bao gồm:

  • ảnh hưởng đến mặt bằng (khi khai thác đá, khoáng sản…)
  • ảnh hưởng đến môi trường sinh thái khi khai thác sử dụng tài nguyên rừng, biển…
  • ảnh hưởng của bụi, tiếng ồn, ánh sáng…
  • giải pháp khắc phục.

Ngoài vấn đề công nghệ và ảnh hưởng đến môi trường của dự án, thẩm định kỹ thuật, công nghệ đồng thời cũng xem xét đến các mặt:

- Các nguyên liệu đầu vào:

  • cơ sở pháp lý, kỹ thuật để xác định quy mô, trữ lượng và khả năng tiềm tàng của các yếu tố đầu vào, xem xét nguyên liệu đầu vào thuộc loại gì, lấy ở đâu, giá cả như thế nào, tỷ lệ nhập nguyên liệu ra sao. Nhìn chung nếu nguyên liệu trong nước có tỷ lệ càng cao càng tốt.
  • chất lượng của các yéu tố đầu vào, căn cứ đánh giá.
  • hình thức khai thác, cung cấp, khả năng bảo đảm ổn định của nguyên vật liệu đầu vào.
  • Về cơ sở hạ tầng cung cấp: dự án sẽ sử dụng năng lượng gì, có liên tục không.
  • Nguồn nước cung cấp và nguồn nước thải có phù hợp với môi trường xung quanh không
  • Cơ sở hạ tầng khác như thông tin, chất thải, an toàn, phòng cháy chữa cháy…
  • Thẩm tra về địa điểm: bao gồm cả văn bản pháp lý và địa điểm cụ thể
  • tìm hiểu kỹ về chính sách kinh tế- xã hội của Chính phủ, địa phương về khu vực đó
  • dự án không được mâu thuẫn với quy hoạch tổng thể
  • tuân thủ các quy định về quy hoạch xây dựng và kiến trúc của địa phương, các quy định của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về phòng cháy, chữa cháy, quản lý di tích lịch sử, an ninh quốc phòng…
  • thuận lợi về giao thông
  • gần nguồn cung cấp nguyên vật liệu chủ yếu
  • tận dụng được các cơ sở hạ tầng kỹ thuật sẵn có trong vùng

. các chất phế thải, nước thải độc hại đều phải qua khâu xử lý và gần tuyến thải cho phép.

  • Về nguồn nhân lực: khi thẩm định cần xem xét về:
  • dân số trong khu vực, trình độ văn hoá
  • số lao động có thể thu hút được và sử dụng cho dự án
  • chi phí cho sử dụng lao động.

Trường hợp phải thuê chuyên gia nước ngoài để lắp đặt, đào tạo, chạy thử, vận hành dự án cũng phải tính đến chi phí, lương của họ. Các quy định về chế độ đối với người lao động phải tuân thủ theo pháp luật.

  • Thẩm định kỹ thuật xây dựng công trình của dự án .

Xem xét việc xây dựng có phù hợp với tổng thể không, có phù hợp với công nghệ, thiết bị và yêu cầu về môi trường, có được bảo đảm không. Về mặt thiết bị cần kiểm tra tính đồng bộ với công suất của các thiết bị, các công đoạn sản xuất với nhau, mức độ tiêu hao nguyên liệu, năng lượng, tuổi thọ, yêu cầu sửa chữa bảo dưỡng, khả năng cung ứng phụ tùng. Đối với các loại thiết bị nhập khẩu, ngoài việc kiểm tra theo các nội dung trên cần phải kiểm tra thêm về các mặt như: các điều khoản của hợp đồng nhập khẩu có đúng với luật và thông lệ ngoại thương hay không, tính pháp lý về trách nhiệm của các bên ra sao.

Xem xét các hạng mục phải xây dựng mới và các hạng mục công trình cải tạo nâng cấp. Kiểm tra các giải pháp xây dựng căn cứ vào yêu cầu công nghệ, các định mức, tiêu chuẩn xây dựng của loại dự án, nhu cầu xây dựng các hạng mục công trình chính, phụ trợ, hạ tầng kỹ thuật.

Xem xét về tổ chức xây dựng, trình tự và tiến độ thi công. Điều này liên quan tới thời gian đưa dự án vào sử dụng, thời gian góp vốn, công nghệ.

Thẩm định các mục tiêu của dự án .

Cần xem xét các vấn đề sau:

  • Xem xét xem mục tiêu của dự án có phù hợp với chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế chung của cả nước, cả vùng hay không. Đối với Việt Nam, các lĩnh vực mà các nhà đầu tư nước ngoài được khuyến khích đầu tư bao gồm:
  • sản xuất hàng xuất khẩu
  • nuôi trồng, chế biến nông lâm thuỷ sản
  • sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại, bảo vệ môi trường sinh thái, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển.
  • sử dụng nhiều lao động, chế biến nguyên liệu và sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam.
  • xây dựng kết cấu hạ tầng và các cơ sở sản xuất công nghiệp quan trọng.

- Xem xét dự án có thuộc ngành nghề được phép không, có được ưu tiên không. Các ưu tiên thường về thuế (thuế suất hoặc thời hạn miễn giảm thuế), về tỷ lệ góp vốn, tiền thuê đất, mặt nước hay mặt biển. Theo Luật đầu tư nước ngoài 1996 và Luật sửa đổi bổ xung một số đIều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000, danh mục lĩnh vực không cấp giấy phép đầu tư bao gồm:

  • các dự án gây nguy hại đến an ninh quốc gia, quốc phòng và lợi ích công cộng
  • các dự án gây phương hại đến di tích lịch sử, văn hoá, thuần phong mỹ tục Việt Nam
  • các dự án gây tổn hại đến môi trường sinh thái, các dự án xử lý phế thải độc hại đưa từ bên ngoài vào Việt Nam.
  • các dự án sản xuất các loại hoá chất độc hoặc sử dụng các tác nhân độc hại bị cấm theo điều ước quốc tế

Các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn và đặc biệt khó khăn được khuyến khích đầu tư .

Thẩm định mức độ phù hợp mục tiêu dự án với quy hoạch, tính hợp lý của việc sử dụng đất, phương án đền bù giải phóng mặt bằng và định giá tài sản góp vốn của bên Việt Nam.

Lĩnh vực ngành nghề của dự án phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội. Quy hoạch bao gồm quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội vùng, lãnh thổ; quy hoạch phát triển đô thị, quy hoạch phát triển ngành. Các dự án phù hợp danh mục dự án gọi vốn đầu tư nước ngoài do các cấp có thẩm quyền công bố được coi là phù hợp với quy hoạch. Một số dự án đặc thù cần có quy định về quy mô đầu tư thì phải có quyết định hoặc uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ.