Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu

Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu

Sau khi hợp đồng mua bán ngoại thương được ký kết, đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu với tư cách là một bên ký hợp đồng phải tổ chức hợp đồng đó. Đây là một công việc rất khó khăn, phức tạp đòi hỏi phải tuân thủ luật pháp Quốc gia, Quốc tế, đảm bảo uy tín của cả hai bên. Về mặt kinh doanh, trong quá trình thực hiện các khâu công việc, đơn vị kinh doanh phải cố gắng tiết kiệm chi phí lưu thông, nâng cao tính doanh lợi và hiệu quả của các nghiệp vụ giao dịch.

Để thực hiện một hợp đồng nhập khẩu, đơn vị kinh doanh phải tiến hành các khâu công việc sau:

Xin giấy phép nhập khẩu:

Hiện nay, việc xin giấy phép nhập khẩu của các doanh nghiệp kinh doanh XNK ở Việt Nam vẫn được áp dụng trong trường hợp:

- Nếu là hàng hoá thuộc diện quản lý bằng hạn ngạch thì doanh nghiệp phải xin giấy phép XNK của Bộ Thương mại.

- Nếu là hàng hoá không thuộc diện quản lý bằng hạn ngạch thì doanh nghiệp không cần phải xin giấy phép.

Mở L/C.

Nếu hợp đồng nhập khẩu quy định thanh toán bằng L/C thì bên mua phải lập L/C. Thời gian mở L/C nếu hợp đồng không quy định gì thì phụ thuộc vào thời gian giao hàng, thông thường thì L/C được mở khoảng 20-25 ngày trước thời hạn giao hàng. Cơ sở mở L/C là các điều khoản trong hợp đồng nhập khẩu. Người nhập khẩu phải căn cứ vào đó để điền vào mẫu xin mở L/C gọi là giấy mở tín dụng khoản nhập khẩu.

Thuê tàu lưu cước.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu, việc thuê tàu chở hàng được tiến hành dựa vào ba căn cứ sau: những điều khoản của hợp đồng mua bán, đặc điểm của hàng hoá nhập khẩu và điều kiện vận tải. Chủ hợp đồng phải chú ý tới từng loại hàng hoá để thuê phương tiện vận tải cho phù hợp. Hàng hoá có khối lượng lớn thì thuê tàu chuyến, hàng hoá có khối lượng nhỏ thì thuê tàu chậm, hàng lỏng thì thuê Tanker, hàng tươi sống thuê phương tiện vận tải có thiết bị làm lạnh... Việc thuê tàu, lưu cước đòi hỏi có kinh nghiệm nghiệp vụ, có thông tin về thị trường thuê tàu và tinh thông các điều kiện thuê tàu. Vì vậy thông thường, chủ hàng thường uỷ thác việc thuê tàu, lưu cước cho một công ty vận tải chuyên nghiệp. Cơ sở pháp lý điều tiết mối quan hệ giữa hai bên nhận uỷ thác thuê tàu và uỷ thác thuê tàu là hợp đồng uỷ thác.

Có hai loại hợp đồng uỷ thác:

  • Hợp đồng uỷ thác thuê tàu cả năm.
  • Hợp đồng uỷ thác chuyến.

Chủ hàng xuất nhập khẩu căn cứ vào đặc điểm vận chuyển của hàng hoá để lựa chọn loại hình hợp đồng uỷ thác cho thích hợp.

Mua bảo hiểm.

Hàng hoá chuyên chở trên đường thường gặp nhiều rủi ro, tổn thất vì thế chủ hàng nhập khẩu thường mua bảo hiểm tại các Công ty bảo hiểm có uy tín. Hợp đồng bảo hiểm có thể là hợp đồng bảo hiểm hoặc là bảo hiểm chuyến. Để ký hợp đồng bảo hiểm cần nắm vững những điều kiện bảo hiểm:

  • Bảo hiểm mọi rủi ro.
  • Bảo hiểm có tổn thất riêng.
  • Bảo hiểm miễn tổn thất riêng.

Ngoài ra có một số loại bảo hiểm phụ: vỡ, rò, rỉ, mất trộm, ôxi hoá... và bảo hiểm đặc biệt: chiến tranh, đình công, bạo động, dân biến...

Việc lựa chọn điều kiện bảo hiểm phải dựa trên 4 căn cứ:

  • Điều khoản hợp đồng.
  • Tính chất hàng hoá.
  • Tính chất bao bì và phương thức xếp hàng.
  • Loại tàu chuyên chở.
  • Tình hình khí hậu thời tiết, chính trị, xã hội...

Làm thủ tục hải quan.

Hàng hoá khi đi ngang qua biên giới quốc gia để nhập khẩu đều phải làm thủ tục hải quan gồm ba nội dung chủ yếu sau:

- Khai báo hải quan: chủ hàng phải khai báo các loại chi tiết hàng hoá lên tờ khai về: loại hàng hoá (hàng mậu dịch, phi mậu dịch, hàng trao đổi tiền ngạch biên giới, hàng tạm nhập tái xuất), số lượng, khối lượng, giá trị hàng hoá, phương tiện vận tải, nước giao dịch... kèm theo đó là giấy phép nhập khẩu, hoá đơn, bản kê chi tiết để cơ quan hải quan kiểm tra thủ tục giấy tờ.

- Xuất trình hàng hoá: hàng hoá nhập khẩu phải được sắp xếp trật tự, thuận tiện cho việc kiểm tra, mọi chi phí liên quan đến việc đóng mở hàng hoá, chủ hàng phải chịu. Yêu cầu việc xuất trình hàng hoá phải đảm bảo trung thực.

- Thực hiện các quyết định của hải quan: nghĩa vụ của chủ hàng là phải chấp hành mọi quyết định của hải quan về việc: nộp thuế trong vòng 30 ngày nếu hàng hoá được nhập, hoặc nộp phạt nếu hàng hoá sai quy định, tịch thu nếu hàng hoá nằm trong danh mục cấm nhập của Nhà nước.

Kiểm tra hàng hoá nhập khẩu và giao nhận với tàu.

Hàng nhập khẩu về qua cửa khẩu sẽ được kiểm tra kỹ càng, mỗi cơ quan tuỳ theo chức năng của mình mà tiến hành công việc kiểm tra đó. Nếu phát hiện những tổn thất, thiếu hụt, mất mát hay đổ vỡ cơ quan chức năng sẽ lập biên bản rõ ràng. Người nhập khẩu với tư cách là một bên đứng tên vận đơn thư dự kháng nếu nghi ngờ hoặc thực sự thấy hàng có tổn thất, yêu cầu lập biên bản giám định.

Theo quy định của Nhà nước về việc giao dịch hàng với tàu, các cơ quan vận tải, ga cảng có trách nhiệm nhận hàng hoá trên các phương tiện vận tải vào ga cảng, bảo quản hàng hoá đó trong quá trình xếp dỡ, lưu kho, lưu bãi và giao cho đơn vị nhập khẩu theo lệnh của đơn vị ngoại thương đã xuất khẩu hàng hoá đó. Thông báo cho các đơn vị nhập khẩu ngày tàu về cảng.

Thanh toán.

Đây là khâu trọng tâm, cuối cùng của tất cả các giao dịch, kinh doanh trong Thương mại Quốc tế.

Nếu hợp đồng quy định thanh toán bằng L/C, đơn vị mở L/C gửi giấy xin mở tín dụng khoản nhập khẩu đến ngân hàng ngoại thương cùng với hai uỷ nhiệm chi: một uỷ nhiệm chi để ký quỹ theo quy định về việc mở L/C và một uỷ nhiệm chi nữa để trả thủ tục phí cho ngân hàng ngoại thương, đơn vị kinh doanh nhập khẩu phải kiểm tra chứng từ và nếu thấy chứng từ hợp lệ thì trả tiền cho ngân hàng, sau đó nhận chứng từ đi lấy hàng.

Nếu hợp đồng nhập khẩu quy định thanh toán tiềnhàng bằng phương thức nhờ thu thì sau khi nhận được chứng từ ở ngân hàng ngoại thương đơn vị kinh doanh nhập khẩu được kiểm tra chứng từ trong một thời gian nhất định, nếu trong thời gian này đơn vị kinh doanh nhập khẩu không có lý do chính đáng để từ chối thanh toán thì ngân hàng coi như yêu cầu đòi tiền là hợp lệ. Quá thời hạn quy định cho việc kiểm tra chứng từ, mọi tranh chấp giữa bên bán và bên mua về thanh toán tiền hàng sẽ được trực tiếp giải quyết giữa các bên đó hoặc qua cơ quan trọng tài.

Chú ý: chứng từ thanh toán cần được lập hợp lệ, chính xác và được nhanh chóng giao cho ngân hàng nhằm thu hồi vốn nhanh.

Khiếu nại và giải quyết khiếu nại.

Khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu, nếu chủ hàng nhập khẩu phát hiện thấy hàng nhập khẩu bị tổn thất, đổ vỡ, thiếu hụt, mất mát thì cần lập hồ sơ khiếu nại ngay để khỏi làm mất thời cơ khiếu nại.

Đối tượng khiếu nại là người bán nếu hàng hoá có chất lượng hoặc số lượng không phù hợp với hợp đồng, có bao bì không thích đáng, thời hạn giao hàng bị vi phạm, hàng giao không đồng bộ.

Đối tượng khiếu nại là người vận tải nếu hàng hoá bị tổn thất trong quá trình chuyên chở hoặc nếu sự tổn thất đó do người vận tải gây ra.

Đối tượng khiếu nại là Công ty bảo hiểm nếu hàng hoá- đối tượng của bảo hiểm bị tổn thất do thiên tai, tai nạn bất ngờ hoặc lỗi của người thứ ba gây nên, nếu những rủi ro này đã được mua bảo hiểm.

Đơn khiếu nại phải kèm theo những bằng chứng về việc tổn thất (như biên bản giám định, COR, ROROPC hay CSC...), hoá đơn, vận đơn đường biển, đơn bảo hiểm (nếu khiếu nại Công ty bảo hiểm)...

Nếu việc khiếu nại là có sơ sở, chủ hàng xuất khẩu phải giải quyết bằng một trong những phương pháp sau:

- Giao hàng còn thiếu.

- Giao hàng tốt thay thế hàng kém chất lượng.

- Sửa chữa hàng hỏng.

- Giảm giá hàng mà số tiền giảm giá được trang trải bằng hàng hoá giao vào thời hạn sau đó.

Nếu việc khiếu nại không được giải quyết thoả đáng, hai bên có thể kiện nhau tại hội đồng trọng tài (nếu có thoả thuận trọng tài) hoặc tại toà án.