Trái phiếu

Là một loại chứng khoán có giá là một giấy chứng nhận nợ của người vay vốn muốn thu góp vốn và đảm bảo trả lãi với lãi suất, thời hạn nhất định, và trả vốn gốc trong thời hạn nhất định. Trái phiếu thường chỉ loại trái phiếu có thời hạn trung dài hạn trên một năm.

Nhìn chung trái phiếu có đặc điểm sau đây :

Có thể trong cùng một điều kiện, một thời gian thu góp số vốn lớn của nhiều người đầu tư;

Sau một thời hạn nhất định trả lại vốn và lãi theo định kỳ;

Chủ nợ xem xét tình hình thực tế thị trường tự do chuyển nhượng trái phiếu của họ.

Quyền lợi của người có trái phiếu : người có trái phiếu nói chung có 4 quyền lợi sau :

Được nhận thù lao lãi suất trái phiếu và cách trả lãi là một trong những điều kiện trái phiếu, vì vậy người mắc nợ cần giải quyết theo quy định, người có trái phiếu dựa theo quy định đã có, nhận thù lao theo điều kiện thời hạn;

Thu hồi vốn, kim ngạch mặt phiếu, cách trả và thời hạn của trái phiếu là những điều kiện cơ bản của trái phiếu, người mắc nợ cần phải trả đúng thời hạn trái phiếu, không được tuỳ tiện kéo dài; Người có trái phiếu có quyền thu hồi vốn theo thời hạn. Có lúc trả vốn trái phiếu bằng cách chuộc trước thời hạn hoặc trả từng đợt theo kiểu rút thăm;

Nhượng lại. Phần lớn trái phiếu thuộc loại nhượng lại, vì vậy người có trái phiếu có quyền chi phối, tuỳ theo nhu càu có thể chuyển nhượng hoặc bán;

Rút vốn. Khi người mắc nợ kéo dài trả nợ và sẽ bán hết tài sản, người có “trái phiếu thế chấp” được ưu tiên nhất, “trái phiếu có thế chấp” xếp thứ hai, người có “trái phiếu phụ thuộc” xếp thứ ba.

Các loại trái phiếu

Khi căn cứ vào mục đích phát hành và người phát hành ta có trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty.

Trái phiếu chính phủ : là một công cụ vay nợ trung và dài hạn của chính phủ, người đứng ra vay nợ là chính phủ với một mục đích huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để bù đắp thâm hụt ngân sách triền miên đồng thời giúp chính phủ có nguồn vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng... loại trái phiếu này có tín nhiệm cao, người có trái phiếu sau một thời gian thu lại vốn theo kim ngạch ghi trên mặt phiếu và nhận được tiền thù lao nhất định. Với những trái phiếu chính quyền trung ương thì có mức độ an toàn hơn là trái phiếu chính quyền địa phương nhưng lại có lãi suất cao hơn vì không bị đánh thuế thu nhập, nhìn chung lãi suất của trái phiếu chính phủ là thấp. Với nhiều kỳ hạn khác nhau, trái phiếu chính phủ có thể có kỳ hạn là 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng, 1 năm đến 2, 3 năm... bên cạnh độ rủi ro là không cao.

Trái phiếu công ty : là công cụ vay nợ trung, dài hạn của công ty, huy động vốn cho sản xuất kinh doanh của công ty. Công ty bảo đảm sẽ trả vốn (giá trị trên mặt phiếu) trái phiếu trong thời hạn nhất định và trả lãi suất trái phiếu theo thời hạn ước định (thời hạn trả lãi) và lãi suất quy định. Có loại trái phiếu được phát hành thấp hơn giá trị mặt phiếu, còn có thể trả vốn gốc trước thời hạn. Nội dung phát hành cần phải làm theo luật pháp, hạn ngạch trên mặt phiếu là định ngạch và có thể tự do chuyển nhượng. Nếu có trái phiếu công ty có đảm bảo cần ghi rõ hai chữ “đảm bảo” được cơ quan chủ quản cho phép và phép kiểm chứng.

So với vốn vay từ ngân hàng, chứng từ thương nghiệp phát hành, phát hành cổ phiếu mới và những nguồn vốn khác, trái phiếu công ty có những ưu điểm trội hẳn nhất định, cụ thể là :

Có nguồn vốn rộng, thời hạn khá lâu, bổ sung cho ngân hàng thiếu vốn và thời gian cho vay ngắn hạn;

Lãi suất ngân hàng vay có lúc thay đổi, lãi suất trái phiếu cố định và nói chung cao hơn lãi suất công trái chính phủ;

Trên thị trường phát hành chứng từ thương nghiệp, xí nghiệp nhỏ dùng lãi suất cao cạnh tranh với xí nghiệp lớn vì vậy không kinh tế bằng phát hành trái phiếu. Xí nghiệp lớn có kim ngạch lớn và lãi suất thấp;

So với phát hành cổ phiếu thì phát hành trái phiếu thủ tục giản đơn và co giãn lớn;

Trong tình hình tiền lệ lạm phát, phát hành trái phiếu chỉ cần đến thời hạn trả lại vốn theo mặt phiếu, vì vậy đã trút rủi ro lạm phát cho người mua trái phiếu.

Giữa trái phiếu công ty và cổ phiếu công ty có sự giống khác rõ rệt. Giống nhau, cụ thể là : 1/ Trái phiếu và cổ phiếu đều là một hoặc chứng khoán có giá; 2/ nhìn từ phía con nợ đều là những phương tiện thu góp vốn cho nhu cầu tiền vốn; 3/ nhìn từ phía chủ nợ đều là phương tiện đầu tư để có được thù lao nhất định. Sự khác nhau,mục đích phát hành khác nhau. Phát hành cổ phiếu là nhu cầu của công ty cổ phần thu góp tư bản tự có; phát hành trái phiếu phần lớn là nhu cầu tăng thêm tư bản; 2/ tư cách người có phiếu không giống nhau. Người có cổ phiếu là cổ đông của công ty cổ phần, trái phiếu chỉ là bằng chứng vay tiền, chứng nhận là một loại chủ nợ không liên quan đến những quyền sở hữu khác; 3/ quan hệ giữa người có phiếu và xí nghiệp khác nhau. Người có cổ phiếu với doanh nghiệp là quan hệ đầu tư, có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp và chịu rủi ro đầu tư; người có trái phiếu với doanh nghiệp là quan hệ vay, cho vay, không có quyền tham gia quản lý nói chung không chịu rủi ro đầu tư. 4/ Cách thu hồi vốn có khác nhau cổ phiếu nói chung không thể rút lui chỉ có thể chuyển nhượng, trái phiếu đến thời hạn đòi vốn ở người phát hành; 5/ Sự ổn định về lợi ích không giống nhau. Lợi ích của người có cổ phiếu tuỳ theo sự phát triển lợi ích của công ty; người có trái phiếu được nhận thù lao đầu tư cố định, có ưu điểm về thời gian hơn cổ phiếu. Khi doanh nghiệp phá sản, trái phiếu cần được bồi thường trước tiên nên càng có ưu tiên hơn.

Khi phát hành trái phiếu công ty có những lợi ích hơn so phát hành cổ phiếu công ty, cụ thể là : 1/ Không thay đổi quan hệ sở hữu tài sản giữa người nắm giữ phiếu và doanh nghiệp; 2/ thủ tục tiện lợi, giản đơn; 3/ tính co giãn lớn : trái phiếu công ty là nợ của công ty với bên ngoài, đến hạn phải trả vốn, nếu cần có thể phát hành thêm trái, cổ phiếu là một phần tài sản của công ty, mỗi khi công ty không cần tiền vốn này cũng không thể trả lại, không được co giãn; 4/ Có thể trút rủi ro ( khi tiền tệ lạm phát ) cho người khác; 5/ Có thể trả nợ trước thời hạn. Bên cạnh đó, việc phát hành trái phiếu công ty cũng có nhược điểm so với việc phát hành cổ phiếu công ty. Đó là : 1/ có nhiều điều kiện ràng buộc. Luật pháp có những hạn chế nhất định đối với công ty phát hành như hạn ngạch cao nhất trái phiếu phát hành, tài sản đảm bảo trên trái phiếu phát hành, bố trí quỹ trả nợ, hạn chế tiếp tục vay các khoản vay dài hạn khác.... Công ty vay nợ cần làm đúng theo pháp luật; 2/ gánh nặng về tài chính. Lãi suất trái phiếu công ty cố định, nếu doanh nghiệp kinh doanh không giỏi, tình hình thị trường trở nên xấu, lãi của công ty giảm, chi phí cho lãi suất cố định ấy sẽ trở thành gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp..

- Khi căn cứ vào phương thức thanh toán các khoản vay vốn gốc và lãi cho trái phiếu ta có : trái phiếu vay đơn; trái phiếu vay trả cố định; trái phiếu coupon; trái phiếu triết khấu; trái phiếu vĩnh cửu

Trái phiếu vay đơn : trái phiếu mà toàn bộ tiền vốn gốc và lãi sẽ được thanh toán một lần đến thời kỳ đáo hạn.

Trái phiếu vay trả cố định : loại trái phiếu mà người mua trái phiếu sẽ được thanh toán một khoản cố định đều nhau trong suốt kỳ hạn của trái phiếu đó. Ví dụ, mua trái phiếu mệnh giá 1000 $, thời hạn 20 năm, mỗi năm nhận một khoản cố định 100$/ năm và đến hết 20 năm sẽ trả hết là 2000$ mà không có trả gốc nữa.

Trái phiếu Coupon : tiền lãi của trái phiếu được trả hàng năm, tiền vốn gốc được trả vào ngày đáo hạn. Ví dụ, mua trái phiếu mệnh giá 1000$ trong 10 năm, đáo hạn nhận lại 1000$ là tiền coupon, lãi suất nhận được là lãi suất coupon.

Trái phiếu triết khấu : là trái phiếu mà ở đó người mua trái phiếu sẽ trả cho người bán với giá mua thấp hơn mệnh giá nhưng đến ngày đáo hạn người mua được thanh toán trả lại theo mệnh giá. Khoản chênh lệch đó chính là lãi suất. Như vậy, đây là hình thức trả lãi trước ngay tại thời điểm mua.

Trái phiếu vĩnh cửu : là loại trái phiếu mà ở đó người mua nó không bao giờ được thanh toán tiền gốc. Nó giống trái phiếu cố định ở điểm : người mua nhận khoản cố định hàng năm và không nhận được khoản gốc cho đến khi người sở hữu trái phiếu vĩnh cửu chết đi mà không sang tên hay thừa kế. Vì thế nó có tên là trái phiếu vĩnh cửu.