Xu hướng vận động của FDI

FDI tăng nhanh và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tỷ trọng vốn đầu tư

Tổng lưu chuyển vốn quốc tế ngày càng tăng nhanh trong những năm gần đây khoảng 20 đến 30% một năm.Điều đó cho thấy xu thể quốc tế hoá đời sống ngày càng phát triển mạnh, các nước đều phục thuộc lẫn nhau và tham gia tích cực vào quá trình phân công lao động quốc tế.Những năm 1970 vốn đầu tư FDI thế giới hàng năm tăng 25tỷUSD, đến những năm 1980 –1985 lượng vốn FDI thế giới hàng năm tăng 50tỷUSD,năm 1988 lượng vốn FDI thế giới không ngừng tăng và dừng ở mức dưới 200 tỷUSD, đến 1994 vốn FDI thế giới tăng 226tỷUSD, năm 1995 còn số đó là 235tỷUSD, đến năm 1998 vốn FDI của toàn thế giới lên tới 4000tỷUSD, tăng 20% với năm 1997 và cho đến hết năm 2002 lượng FDI của thế giới là 4500tỷUS.Dó chứng tỏ hoạt động FDI ngày càng được nhiều nước tiến hành.

Hướng phát triển FDI từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 vốn FDI chủ yếu đổ vào các nước châu ÂU bởi vì đầu tư thời gian đó mạnh nhất là Mỹ , các công ty của Mỹ thực hiện theo kế hoạch MARSHAL để thúc đẩy nền kinh tế của các nước đồng mình.Thời kỷ sau đo khi nền kinh tế tây âu và nhật bản phục hồi.Thế giới hình thành ba trung tâm Mỹ ,Tây âu, Nhật bản, FDI chủ yếu được thực hiện trong các nước công nghiệp nhằm củng cố tiềm lực của mình.Những năm 50 do suy thoát rộng khắp trong giới tư bản thì FDI có xu hướng chuyển sang các nước đang phát triển.

Nguyền nhân của sự chuyền hướng này là vì :

Suy thoái kinh tế có tính chu kỷ, sự tự tụt giảm lãi suất và lợi nhuận của nước phảt triển để đạt được lợi nhuận cao buộc các nhà đầu tư phải tìm địa ban mới đó là thị trường của các nứơc đang phát triển.

- Xu hường toàn cầu hoá và đa dạng hoá ảnh hưởng lâu dài tới sự chuyển hướng đầu tư vì nhiệm độ tăng nhanh như hiện này thì các nước đang phát triển chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất và thương mại quốc tế, đó là nơi thu hút FDI hấp dẫn.Mặt khác khi việc cải cách mạnh mẽ thị trường tài chính của cả nước phát triển lẫn các nước đang phát triển dẫn tới sự cạnh tranh gay gặt trong thu hút FDI.

- Tăng động của quốc cách mạng khoa học kỹ thuật khiến các nước công nghiệp phải thường xuyên thay thể may móc thiết bị lạc hậu để làm được điều này họ phải tìm được nơi để chuyển giao các công nghệ ,đó là các nước đang phát triển các nước công nghiệp lại thu được giá trị mới.

- Thế giới xuất hiện nhiều vần đề mà một mình các nước công nghiệp không thể giải quyết hết vì thể cần phải hợp tác với nước đang phát triển.

- Các nước đang phát triển đạt được những thanh tựu to lớn, về kinh tế, đảm bảo môi trường đầu tư thuận lợi , tham gia ngày càng mạnh vào phần công lao động quốc tế ,điều đó ngày càng thu hút được FDI.

Tuy nhiên ngày này lược vốn FDI vẫn chủ yếu trong khối OECD, 80% lượng FDI vẫn hướng vào các nước phát triển.Theo dự đoán của WB lượng FDI vào các nước song lượng FDI vẫn tiếp tục tăng vào các nước phát triển, để thu hút được nhiều lượng FDI hơn nữa cần tiếp tục tạo ra sự ổn định trong môi trường chính trị xã hội và tốc độ tăng trưởng cao đó là nhân tố lớn cơ bản, không thể thiểu trong thu hút FDI.

Sự phân bố FDI không đều cho các khu vực địa lý

Những năm 1980 tính đạt được tốc độ tăng trưởng cao, vồn đầu tư chủ yếu tập trung vào khu vực này.Sau đó những năm 1990 đến năm 2000 lạm phát tăng nhanh có dấu hiệu suy thoái khung hoảng nên lượng vồn FDI có xu hướng chuyển sang các nước đang phát triển ở ĐÔNG NAM á, nơi có cải cách mới đang là nền kinh tế năng động nhất trên thới giới.

Bảng : FDI vào khu vực các nước đang phát triển thời kỷ 86đến 90

Khu vực Fdi bình quan mộtnăm(tỷ$) Tốc độ tăng bình quân(%)
Mỹ la tinh 26 22
Tây á 0,4 17
đông nam á 14 37
Châu phí 3 6

Nguồn :World Investment Report,UN, New york

Nguồn FDI và Đông Nam á chủ yếu là từ Mỹ ,Nhật bản và các nước công nghiệp khác.

Trong số các nước có vốn FDI tăng phải kể đến Thailand, Singapore, Malaysia, đầu tư vào Đông Nam á là do :

+ Tăng trưởng cao và ổn định, cũng các cải cách về tài chính là nên tăng thu hút FDI

+ Đồng yên (Nhật bản) tăng giá khiến Nhật đầu tư ra nước ngoài nhiều hơn vào Đông Nam á là thị trường quen thuộc của Nhật.

+ Khả xuất khẩu của các nước đông nam á tăng nhanh nên dư cán cân thanh toàn quốc tế, tạo ra tư bản thừa cần tìm nơi đầu tư, kết hợp với xu hướng liên kết khu vực phát triển mạnh mẽ nên FDI tăng nhanh phần nhiều cũng là do các nhà đầu tư khu vực.

+Do các nước đông nam á đa dạng hoá các hình thức đầu tư và xây dựng nhiều các khu công nghiệp, khu chế xuất đồng thời có nhiều ưu đãi cho nhà đầu tư khi đầu tư vào các khu đó.

+ Chuyển sang những năm 1995-1999 lượng FDI có xu hướng tăng trở lại trong khu vực Mỹ la tính và khu vực Châu phí , Đồng âu những năm 2000-2002 do gặp phải cuộc khung hoảng tài chính tiền tệ nền lượng FDI trong khu vực Đông nam á giảm mạnh, tuỳ vậy nó có xu hướng tăng trở lại từ đầu năm 2003.

Lượng FDI tăng không đều trong khu vực các nước đang phát triển song lại chủ yếu tập trung vào một số nước như Trung quốc,Brazil, Nga và một số nước NEC Đông nam á. Lượng FDI vào các nước công nghiệp phát triển vẫn là chủ yếu . Mỹ là nước có lượng FDI lớn nhật trên thế giới chiếm hơn 1/4 lượng FDI , tuỳ nhiên FDI của EU lớn nhất là vào Mỹ.

Sự chuyển hướng đầu tư trong thời gian gần đây

Hiện này, nhu cầu vốn đầutư phát triển của các quốc gia rất lớn và ngày một tăng, nhưng khả năng cung cấp vốn đầu tư rất hạn chế , do đó khả năng cung cấp về vốn trên thế giới rất căng thẳng . Khả năng thu hút vốn đầu tư của các quốc gia phụ thuộc và nhiều yếu tố.Trong đó, các nhân tố cơ bản là xu hường vận động có tính quy luật của các dòng vốn FDI trên thế giới, chiến lược đầu tư và phát triển của các tập đoàn đa quốc gia, môi trường đầu tư và khả năng cạnh tranh thu hút FDI của các nước tiếp nhận đầu tư.

Xu hướng hiện này các dòng vốn FDI chảy vào khu vực các nước đang phảt triển do sự suy thoái kinh tế mang tính chu kỳ, sự suy giảm lãi suất và lợi nhuận đầu tư trong các nước công nghiệp phát triển làm cho địa bàn đầu tư ở đây bị thu hẹp. Để tăng lợi nhuậnthu được buộc các nhà đầu tư phải tìm kiếm một địa bàn mới , đó là các nước đang phát triển,nơi đang có nhu cầu gay gắt vê vồn và công nghệ.

Do xu hướng toàn cầu hoá và đa dạng hoá quốc tế trong đầu tư công nghiệp của các nước phát triển. Xu hướng này xuất hiện và còn ảnh hưởng lâu dài đến sự chuyển hướng của đầu tư trực tiệp nước ngoài là do hai nguyên nhân sau :

+Với nhịp độ tăng trưởng nhanh như hiện nay, các nước dang phát triển sẽ dẫn chiếm tỷ trọng sản xuất và thương mại quốctế ,do đó sẽ là nơi thu hút đầu tư nước ngoài là hấp dẫn hơn các nước công nghiệp phát triển.

+ Sự cải cách quy định tài chính trong các nước công nghiệp phát triển và các nứơc đang phát triển đã làm cho cạnh tranh trên các thị trường tài chính ngày cang trở nên gay gắt hơn, từ đó góp phần củng cố xu hướng toàn cầu hoá và đa dạng hoá quốctế trong đầu tư.

Trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều vần đề mang tính toàn cầu nếu chỉ có các nước công nghiệp thì không thể giải quyết được, điều đó buộc các nước công nghiệp phát triển phải có những sự nhượng bộ, hợp tác với các nước đang phát triển.

Cuối cùng là một yếu tố quang trọng nằm bên trong các nước đang phát triển đó là, trong những năm gần đây ở nhiều nứơc đang phát triển đã đạt dược những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế , đảm bảo được sự ổn định kính tế vĩ mô và thực hiện sự cải cách cơ cầu kinh tế phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế mở và tham gia ngày càng nhiều vào phân công lao động quốc tế.Đặcbiệt là nhiều nước đang phát triển đã dẫn gỡ bỏ được cuộc khủng hoảng nợ, một trở ngại lớn trong quan hệ giữa các nước đang phát triển với các nước công nghiệp phát triển đã tạo được môi trường đầu tư thuận lợi thu hút vốn FDI

Vì vây, muốn tăng cườngthu hút vốn FDI các nước đang phát triển phải tạo được sự ổn định xã hội- chính trị và đạt dược tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và lâu dài.

Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài

Hiện nay, nhu cầu vốn đầu tư phát triển của các quốc gia rất lớn và ngày một gia tăng, nhưng khả năng cung cấp vốn đầu tư rất hạn chế , do đó quan hệ cung cầu về vốn trên thế giới rất căng thẳng . Khả năng mở rộng quy mô thu hút vốn đầu tư của các quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đó, các nhân tố cơ bản là :

Những xu hướng chủ yếu về đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới

+ Gía tăng của luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới chịu sự chi phối của các nước công nghiệp phát triển

+ Sự thu hút đầu tư mạnh mẽ của công nghiệp chế biến và dịch vụ

+Đa cực và đa biên trong đầu tư trực tiếp

+Các công ty xuyên quốc gia đã trở thanh ch ủ thể đầu tư trực tiếp

+Hiện tượng “hai chiều hoặc lưỡng tính” trong đầu tư trực tiếp

+Chiến lược đầu tư và phát triển của các tập đoàn đa quốc gia

+Rủi ro chính trị và chính sách thuế và các quy định của chính phủ.

Kinh nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số nước trong khu vực

Qua nghiệm cứu kinh nghiệm của nhiều nước trong khu vực (Singapore, Tháiland, Malaysia, Indonesia, Việt nam, Phillipines, Bruney, Hán quốc, Trung quốc) cho phép khẳng định được vai trò quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự tăng trưởng kinh tế của nước nhận đầu tư: Để thu hút được nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, kinh nghiệm của các nước là :

- Cải tổ cơ cấu kinh tế quốc dân theo hướng mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngọai .

- Lựa chọn thời cơ để đưa ra luật đầu tư và các biện pháp thích hợp thu hút đầu tư nước ngoài.

- Phát triển nền kinh tế mở,khuyến khích phát triển mạnh các thành phần kinh tế

- Đổi mới cơ chế quan lý kinh tế vĩ mô , thực hiện việc điều chính nền kinh tế quốc dân thông qua các chương trình kế hoạch có tính hướng dẫn và hệ thông chính sách kinh tế ,điều chỉnh gián tiếp theo các chương trình đó.

- Đổi mới và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng của nền kinh tế

- ổn định chính trị và ổn định môi trường kinh tế vĩ mô.